Tại cuộc họp báo và ký hợp tác giữa JETRO - VIETRADE, ông Suttisak Wilanan, đại diện nhà tổ chức chia sẻ về năng lực và tiềm năng của Việt Nam. Theo đó, sản lượng nhập khẩu điện tử của Việt Nam tăng gấp 3 lần từ năm 2011 đến năm 2016, xuất khẩu tăng 5 lần, từ 12,8 tỷ USD lên 65,8 tỷ USD vào năm 2015. Đầu năm 2015, Việt Nam là nước xuất khẩu điện tử lớn thứ 12 trên thế giới và lớn thứ ba trong khối ASEAN, nhưng với tốc độ này, Việt Nam sẽ nhanh chóng đạt thứ hạng cao trong danh sách. Trên thực tế, Việt Nam đã vượt qua con số 40 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu điện tử trong năm 2017.
Ông Lưu Hoàng Long, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp điện tử Việt Nam cũng chỉ ra rằng, với lợi thế về địa lý là trung tâm của Đông Nam Á và là cầu nối của Đông Dương với thế giới, Việt Nam đang dần trở thành trung tâm sản xuất mới vô cùng hấp dẫn với nguồn lao động có trình độ và chi phí thấp hơn Indonesia và chỉ bằng một nửa của Thái Lan. Trong năm vừa qua, sản lượng xuất khẩu các linh kiện điện thoại luôn giữ tỷ trọng cao nhất, góp phần lớn vào cân bằng thương mại của Việt Nam và giảm nhập siêu. Tuy nhiên, ông Lưu Hoàng Long nói: “Trong tổng số điện thoại di động và linh kiện xuất khẩu của năm 2016 trị giá 34,3 tỷ USD, các doanh nghiệp FDI kiểm soát tới 99,8% trị giá 34,2 tỷ USD”.
Cùng quan điểm, ông Suttisak Wilanan nhấn mạnh thêm, Việt Nam cần thiết phải tăng cường nội địa hóa trong quá trình hội nhập để tận dụng các thể chế kinh tế quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên. Để làm được điều đó, nền công nghiệp điện tử Việt Nam cần tăng năng suất, đẩy mạnh chuỗi giá trị và tăng cường nội địa hóa. Hiện nay, các doanh nghiệp nước ngoài chỉ chiếm một phần ba số doanh nghiệp điện tử ở Việt Nam, nhưng chiếm đến 90% tổng kim ngạch xuất khẩu điện tử của cả nước và chiếm 80% thị phần trong nước.
Ông Hironobu Kitagawa, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội, chỉ ra rằng tỷ lệ nội địa hóa thấp của nguyên liệu và phụ tùng kìm hãm mức tăng trưởng của Việt Nam. Ông nói: “Mức nội địa hóa nguyên liệu, linh kiện và phụ tùng của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam rất thấp, chỉ đạt 34%, trong khi của Trung Quốc là 68%, Thái Lan là 57%. Do đó, các doanh nghiệp buộc phải nhập khẩu từ các nước láng giềng như Thái Lan, Trung Quốc. Đây là nguyên nhân gây ra sự gia tăng chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp”.
Ông Hironobu Kitagawa nhấn mạnh, để nâng cao khả năng cạnh tranh về chi phí và bảo đảm sự cung cấp ổn định của các nhà cung cấp linh kiện, việc tìm kiếm đối tác địa phương vẫn là vấn đề quan trọng nhất. Ông cũng tin rằng, các doanh nghiệp Nhật Bản có thể thiết lập mối quan hệ lâu dài với các doanh nghiệp địa phương Việt Nam để giảm chi phí và tiết kiệm thời gian.
Hơn nữa, với thị trường đầy tính cạnh tranh hiện nay, Việt Nam cần nâng cao năng lực và hoàn thiện chuỗi công nghiệp hỗ trợ đầy đủ. Ông Lưu Hoàng Long chia sẻ thêm, Ấn Độ đang là đối thủ cạnh tranh lớn nhất của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài. Chính vì Ấn Độ áp dụng mức ưu đãi hai cấp cả chính phủ và các tiểu bang, cùng với mức lương thấp và nền công nghiệp công nghệ cao, Ấn Độ vẫn giữ vị trí là “Thung lũng Silicon” của châu Á.
Cùng với việc ký thỏa thuận hợp tác để tăng cường nội địa hóa, củng cố ngành công nghiệp hỗ trợ và nâng cao hiểu biết về hiệp định công nghệ thông tin, sáng nay cũng diễn ra "NEPCON Vietnam 2017" -Triển lãm duy nhất tại Việt Nam về công nghệ SMT, công nghệ kiểm tra, sản phẩm thiết bị và công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất điện tử; và Triển lãm "Công nghệ Hỗ trợ Việt Nam - Nhật Bản lần thứ 7 tại Hà Nội”.
Đây là nơi các nhà sản xuất Nhật Bản gặp gỡ các nhà sản xuất phụ tùng của Việt Nam để thắt chặt cơ hội kinh doanh. Ba sự kiện diễn ra cùng lúc sẽ tăng gấp ba cơ hội kinh doanh và tăng chỉ số nội địa hóa cho ngành điện tử ở Việt Nam. Triển lãm có sự tham gia của hơn 200 thương hiệu hàng đầu, đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore …