Nơi đầu nguồn sông Bến Hải

Cầu tràn ở xã Vĩnh Ô.
Cầu tràn ở xã Vĩnh Ô.

Ðoạn đường ba mươi cây số tính từ dốc Ba Buôi - xã Vĩnh Hà, dẫn lên Vĩnh Ô thật sự chỉ là hai cái rãnh bùn, đất đá lổn nhổn, đó là hậu quả của những đoàn xe vận chuyển gỗ để lại. Mặt đường trông giống như một cặp rắn khổng lồ, ngoằn ngoèo bò song song, lúc chênh vênh bên sườn núi, lúc sâu lút dưới ngầm suối, lúc vắt lên sườn dốc dựng đứng, lúc lại bò giữa tán rừng kín mít như đang chui vào một cái hang.

Từ bao đời nay, người Vĩnh Ô về xuôi chỉ có đi bộ, ngày lội suối bằng đôi chân trần, đêm thì có thêm bó đuốc lồ ô. Còn người dưới xuôi lên thì chủ yếu đi bằng các phương tiện cơ giới, nếu không là U-oát đặc chủng, thì cũng là "Zin ba cầu", Reo hoặc U-ran tự chế có lắp tời ở đầu xe. Ði bằng xe song vẫn vô cùng vất vả. Cứ lên một con dốc lại phải hì hụi móc "cáp" vào một gốc cây cổ thụ nào đó trên đỉnh dốc, rồi quay tời để kéo xe lên. Xuống dốc cũng phải làm như vậy, nhưng "cáp" là để ghìm xe lại.

Suốt quãng đường xuyên đại ngàn, mỗi đỉnh dốc, đỉnh đèo đều thấy sừng sững những cây lim, cây gõ to khổng lồ mà chẳng ai dám đụng cưa đụng rìu, bởi đó chính là "phao cứu sinh" cho những chiếc xe khỏi bị rơi xuống vực. Ba mươi cây số là cả một hành trình như muốn vắt kiệt sức lực con người, những cú quăng quật nối tiếp nhau, tiếng động cơ gầm rú, nóng bức, ngột ngạt, rồi mùi khói xe, mùi lốp cao-su cháy khét lẹt...

Ðến Vĩnh Ô lần này, tôi được gặp đoàn thanh niên tình nguyện của huyện Vĩnh Linh. Bản làng rộn rã, thấp thoáng đây đó bóng áo xanh của những chàng trai cô gái miền xuôi. Anh Nguyễn Ðức Lý - Phó Bí thư huyện Ðoàn và là chỉ huy chiến dịch, cho tôi biết:

- Hoạt động tình nguyện của thanh niên Vĩnh Linh năm nay triển khai sớm hơn thường lệ một tháng. Ðang là đỉnh điểm của mùa khô, đi Vĩnh Ô lúc này là thích hợp nhất, nếu muộn thì dễ gặp mùa mưa, không thực hiện được kế hoạch, sẽ không lên được hoặc mắc kẹt lại đây cả tháng trời.

Khi tôi ngồi viết những dòng này, ngoài trời lại đang có cơn mưa rào nặng hạt. Nghĩ đến chặng đường đi Vĩnh Ô, và nghiệm lại lời nói của Lý, thấy chính xác và rất kinh nghiệm. Bốn mươi sáu thanh niên nam nữ khắp mọi miền quê Vĩnh Linh đã lên đây lăn lộn với bản làng Vân Kiều để góp phần thổi vào đây luồng sinh khí của sức trẻ và lòng nhiệt thành.

Mở đường lên vùng đầu nguồn sông Bến Hải.

Thành quả lao động của họ sau khi kết thúc chuyến công tác thật đáng tự hào: Bảy căn nhà mới được dựng lên cho các hộ chính sách, người neo đơn; hàng trăm lượt khám bệnh và cơ số thuốc giá trị 12 triệu đồng được cấp phát; hàng chục buổi tư vấn vay vốn sản xuất kết hợp giải ngân ngay tại chỗ 200 triệu đồng từ nguồn ngân hàng chính sách xã hội; tập huấn kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc lúa, lạc, cây ăn quả; rồi tập huấn nghiệp vụ công tác Ðoàn và tổ chức đêm văn nghệ trao quà cho các cháu thiếu nhi...

Thật vui và cảm động khi chứng kiến cảnh cụ Hồ Phơi - 81 tuổi, có con trai là liệt sĩ, ở trong căn nhà mới lợp phi-brô xi-măng. Cụ ngồi và mơ màng như không tin vào mắt mình. Còn cô y tá mảnh mai ở Bệnh viện huyện Vĩnh Linh thì kể với tôi:

- Ðây là lần đầu em đi Vĩnh Ô, say xe tưởng không đứng nổi, nhưng giờ thì không sao nữa. Nhóm y bác sĩ chúng em quyết tâm sẽ hoàn thành kế hoạch đã đề ra.

Nhìn trên bản đồ, thượng nguồn sông Bến Hải ở chỗ tiếp giáp Hướng Lập - Hướng Hóa, sát với nước bạn Lào, với những địa danh rất lạ như: Xà Lời, Xà Tẻn, Xà Nin, Cây Tăm, Bản Thúc, Bản Mít... Ðó chính là các bản thuộc xã Vĩnh Ô, tuy nhiên đến đây chỉ thấy bà con gọi là Bản Một, Bản Hai, Bản Ba... đến Bản Tám - nơi xa nhất và phải đi bộ đến cả ngày đường. 98% số dân ở Vĩnh Ô là bà con người Vân Kiều, cả xã có 216 hộ với hơn 1.100 nhân khẩu, trong đó tỷ lệ hộ nghèo là 84% (182/216 hộ).

Tổng diện tích cả xã là 9.000 ha nhưng chỉ có 80 ha ruộng lúa và nương rẫy nằm rải rác theo mấy con suối hay triền đồi thấp. Phương thức canh tác theo lối "phát, đốt, cốt, trỉa" và tình trạng di canh di cư vẫn tồn tại ở nơi này. Vì thế tôi vẫn chưa quên một hình ảnh ở Vĩnh Ô mà hai năm trước khi đến đây tôi từng thấy, những quả đồi cháy xém cùng những người dân lầm lũi trỉa hạt giữa một trời khói rẫy mù mịt...

Giờ thì mọi việc đã khác. Ở những bản có điều kiện đất đai thuận lợi, chủ động được nguồn nước từ các công trình thủy lợi nhỏ, như Bản Một, Bản Bốn... đã bắt đầu phát triển diện tích lúa nước, bên cạnh những nương ngô, nương lạc xanh tốt. Nhiều hộ dân Vĩnh Ô phát triển chăn nuôi, nhất là bò, trâu, dê nên đời sống ở các bản này đã khấm khá hơn hẳn.

Nhà chị Hồ Thị Bông ở Bản Một nuôi ba mươi con bò, làm được căn nhà to nhất bản, mua sắm đủ phương tiện và dư sức nuôi năm con ăn học.

Nhà anh Hồ Văn Sáu ở Bản Thúc, nhờ biết cải tiến cách làm ăn nên đã gây dựng được một cơ ngơi sung túc, không thua gì gia đình khá giả ở dưới xuôi. Nhưng giữa Vĩnh Ô mênh mông, những điểm sáng như thế vẫn còn ít ỏi. Cả xã mỗi năm chỉ làm ra gần 200 tấn lương thực, bình quân thu nhập theo đầu người mỗi năm mới là 2,5 triệu đồng. Cái đói, cái nghèo bám riết cuộc sống của bà con. Trong khi nhiều đàn ông chỉ ngồi nhà uống rượu, thì phụ nữ lầm lụi gùi sắn, gùi măng, gùi củi từ nương về nhà. Rồi trẻ em nhếch nhác lăn bò nơi cầu thang của những căn nhà sàn lợp lá, thấp bé và chật chội.

Tỉnh Quảng Trị và huyện Vĩnh Linh đã chủ động xây dựng nhiều chủ trương và chính sách thiết thực, các đợt cứu trợ toàn diện được thực hiện cùng một số dự án đầu tư khá lớn. Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân trong xã cũng cố gắng vươn lên, nhưng đó có lẽ là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ. Vĩnh Ô hôm nay đã có điện lưới, dù chưa phủ kín các hộ gia đình, một ngôi trường tiểu học rộng rãi, thoáng đãng và cây cầu Bản Thúc bắc qua sông Bến Hải sắp hoàn thành...

Ðể tìm một định hướng mang tính chiến lược, nhằm đưa Vĩnh Ô đi lên, không thể trông cậy vào những rẫy lúa, nương ngô ít ỏi mà phải nhìn về những cánh rừng gỗ tự nhiên đã cạn kiệt vì "lâm tặc". Năm bảy năm nữa, đó sẽ phải là một rừng keo lai hoặc cao-su xanh tốt.

Theo Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Bến Hải Hà Sĩ Ðồng, thì trồng keo lai tuy ngắn thời gian, ít vốn hơn song giá trị kinh tế không cao vì giá thấp, đầu ra khó, công vận chuyển lại quá cao. Chỉ có cây cao-su là phù hợp nhất. Ðất rừng Vĩnh Ô thuộc loại sa phiến thạch có lẫn sỏi - thứ đất mà cao-su rất "kết", hơn đất đỏ ba-zan.

Xã miền núi Vĩnh Hà cận kề Vĩnh Ô đã và đang làm rất tốt việc này. Hàng trăm hộ bà con Vân Kiều ở bên đó sau mấy năm làm "cao-su tiểu điền" giờ đã thoát nghèo và đổi đời đi lên. Vĩnh Ô cũng sẽ phải đi theo hướng này. "Cao-su tiểu điền" sẽ do chính người dân Vĩnh Ô trồng, và nếu xác định đây sẽ là một trong các yếu tố quyết định đưa Vĩnh Ô thoát khỏi đói nghèo thì cái khó đặt ra lúc này là có bao nhiêu hộ dân ở Vĩnh Ô đủ sức làm "cao-su tiểu điền". Kỹ thuật trồng, chăm bón, rồi phải cần mẫn, siêng năng, kiên trì thì cũng 5-7 năm mới có thể thu hoạch, và quan trọng nhất là vốn đầu tư ban đầu. Chương trình trồng rừng 661 được áp dụng ở Vĩnh Ô với mức khoán 5 triệu đồng/ha, nhưng ngay cả đơn vị đầy tiềm lực như Công ty Lâm nghiệp Bến Hải cũng đành phải chịu thua vì chi phí trồng rừng quá lớn, nhất là khâu vận chuyển giống, phân bón,... mà chi phí cho cây cao-su thì còn lớn hơn. Muốn làm được, các hộ dân phải vay vốn và việc vay vốn lại làm nảy sinh một vấn đề là "sổ đỏ" để bà con có thể thế chấp với ngân hàng.

Vì Vĩnh Ô tuy thuộc huyện Vĩnh Linh nhưng lại có năm bản nằm ở bờ nam sông Bến Hải thuộc đất của huyện Gio Linh, nên đến nay hầu như các hộ gia đình ở Vĩnh Ô chưa có trong tay "sổ đỏ". Vì thế rất cần sự phối hợp, kịp thời giải quyết của chính quyền hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh để bà con có thể sớm bắt tay làm "cao-su tiểu điền".

Tạm biệt ché rượu cần thơm lừng, nồng say và ngon ngọt, tôi lại về xuôi. Bản làng, nương rẫy Vĩnh Ô lùi dần về phía sau lưng. Chợt thấy lòng bùi ngùi và lưu luyến lạ kỳ. Nhớ đêm văn nghệ rực rỡ ánh lửa và rộn ràng tiếng hát lời ca giữa sân trường tiểu học chật cứng các bố, các mẹ, rồi thanh niên và trẻ em Vân Kiều từ khắp các bản kéo về.

Giữa núi rừng, âm vang giai điệu của các bài ca Người Vân Kiều ơn Bác, Những cô gái Pa Cô, Bài ca tình nguyện, Mùa hè xanh... Lại nữa, hôm đi chẳng thấy gì, hôm về đã thấy phương tiện máy móc san ủi của các đơn vị làm đường Vĩnh Ô đã tập kết từ khi nào. Nghe nói, vốn làm con đường này tới gần 80 tỷ đồng. Công trình đã triển khai, một vài đèo dốc, đồi núi đã được san bằng, xe qua khỏi phải lo đến toát mồ hôi.

Chỉ nay mai thôi, sẽ có một con đường rộng thênh thang từ Bến Quan, Vĩnh Hà nối lên Vĩnh Ô để xóa đi cái thế xa xôi biệt lập đến ái ngại của những bản làng nơi đầu nguồn dòng Bến Hải. Bạt ngạt rừng cây và đồi núi bên đường rồi đây sẽ là xứ sở của cao-su, của tràm và cây keo lai xanh tốt, mang no ấm đến với đồng bào Vân Kiều.

Rồi một ngày không xa, sẽ không còn những chuyến đi bão táp, không còn những dòng suối vàng đục, không còn những quả đồi cháy sém... Mà sẽ là một Vĩnh Ô gần gũi, thân quen, hết đói nghèo và tưng bừng sức sống giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Tôi tin đó là một giấc mơ có thật.

Có thể bạn quan tâm