Nơi ấy không còn hoang vu

NDĐT – “Nơi ấy” của tôi là Trường Sa và ngã ba biên giới A Pa Chải- điểm mà người ta thường ví “một tiếng gà gáy người dân ba nước Việt – Trung – Lào đều nghe”. Tết này khai bút, tôi lại nghĩ về nơi ấy.

1. Trong chuyện ngắn “Đảo chìm” của Trần Đăng Khoa, tôi từng bị ám ảnh câu nói “Trong ấy có biết bọn mình ở ngoài này không?” của người lính trẻ. Tôi cũng đã rơi vào tâm trạng ấy khi ngồi trên tàu ra đảo. Rời cửa vịnh Cam Ranh, ra biển, chiếc tàu chỉ là một cái chấm nhỏ giữa đại dương. Tàu đi đâu về đâu? Có chuyện gì, có ai biết mình ở đâu không? Nỗi hoảng sợ đó đến nhất thời, chỉ khi đứng trước đại dương mênh mông.

Lính đảo bây giờ không còn hỏi những câu đó. Đêm năm ngoái, một người lính ở đảo Len Đao tôi quen từ chuyến đi trước gọi điện hỏi lịch thi đấu World cup để anh em kẻ lên tường, tiện theo dõi. Mấy mươi năm, kể từ khi những anh công binh phải vật từng hòn san hô xây công trình giữ đảo, đến bây giờ, lính đảo đã có tivi, điện thoại, dàn hát karaoke đã là một bước tiến khá dài.

Nguyên Tư lệnh Công binh Hoàng Kiền, trong chuyến đi dọc biên giới theo công trình làm đường tuần tra đã giúp tôi hình dung rằng, ngày mở luồng vào đảo Đá Lát, giữa cơn thịnh nộ của trời đất, lực lượng công binh phải bấu vào từng mẫu đá để tránh bão biển. Con người lúc đó thật nhỏ, nhưng cũng thật vĩ đại. Từ sự vĩ đại đấy mà những hòn đảo ở Trường Sa giờ đã có nhà kiên cố, không còn là những cái nhà cao chân treo đầy thùng nước như trước kia.

Nhắc đến nước, lại nhớ cuộc điện thoại của Đảo trưởng L.Đ hồi tháng tư khi tôi còn theo tàu lênh đênh giữa biển. Lúc đó anh Phượng hỏi, tàu còn nhiều nước không? Tôi thật thà kể, tàu vừa thông báo yêu cầu mọi người tiết kiệm nước. Nghe xong, anh than: “Tưởng còn nhiều, tao định xin mấy can. Ngoài này hết nước rồi! ”.

Chuyện tưởng đến đó là kết thúc. Không ngờ, lúc làm việc với đảo, Thiếu tướng Phó Đô đốc Nguyễn Cộng Hòa hỏi, anh em có yêu cầu gì không, thiếu gì không? - Mọi người lần lượt nói, nhưng không ai đề cập đến nước, anh Phượng cũng thế.

Hết phần trình bày, Thiếu tướng, Phó Đô đốc Nguyễn Cộng Hòa nghẹn giọng: “Anh biết đảo thiếu nước, anh em sao không nói?”, Những ánh mắt lính đảo sáng lên. Theo lời người chỉ huy cao nhất, thế là những chiếc can lên đường ra khỏi boong tàu. Nước ngọt từ đất liền, theo tàu, giờ được chuyển lại cho đảo. “Người đất liền có thể thiếu, nhưng lính đảo không được thiếu thứ gì”, đó là lời gửi gắm của Phó Đô đốc.

2. Rời biển, cuối năm tôi lại lên biên giới cùng đoàn công tác của Hội nhà báo đi tặng quà cho các gia đình nghèo ở A Pa Chải, Điện Biên. Nghĩ cũng như một vài nơi khác đã đặt chân đến, trước lúc đi, tôi đã ghé chợ mua thêm mấy thùng muối Iốt, mỳ chính để làm quà. Hơn ba ngày đi hết Mường Mươn, qua Mường Chà, đến Mường Nhé, lên đến A Pa Chải, rốt cuộc vẫn không tìm thấy đối tượng để tặng muối, bột ngọt. “Đường đã lên đến bản, chợ cũng lên theo rồi”, câu nói của người dân đến nhận quà ở đồn A Pa Chải làm tôi vui, bởi tư duy người đồng bằng như tôi không theo kịp miền núi mất rồi!

Đêm ở đồn A Pa Chải, bên ánh lửa bếp, tôi đã uống rượu cùng những người lính trẻ. Người Hà Nhì ở đây đón tết từ đầu tháng trước. Đó là tết của họ. Còn tết này, anh lính biên phòng trẻ ngậm ngự mãi, cuối cùng mới nói thêm một câu: “Chủ yếu là anh em trong đồn đón tết với nhau!”

Vẫn câu chuyện tết, người lính già mắt sang góp vui bằng ký ức xa xăm: nhiều năm trước khi đường sá chưa thông, thông tin chưa được phủ sóng như bây giờ, anh em chỉ nhìn vào rừng cây trước mặt mà đoán. Lúc nào hoa cứt lợn nở tím đồi, đấy là tết đến. Chuyện của anh kết thúc không có tiếng cười. Trong đêm chỉ nghe được tiếng bếp lửa lách tách, và những chiếc điện thoại lính trẻ lâu thi thoảng lại cất tiếng "bíp" "bíp" báo nhận tin nhắn của người quen.

Tôi đã đến Leng Su Sìn ba năm trước. Hôm đấy trời mưa. Con đường nối đồn 409 vào đồn Leng Su Sìn đúng là kinh khủng. Chiếc xe máy cày cuốc mãi vẫn không lết được nữa mét. Đất nhão cuốn vào bánh, kẹt cứng giữa hai ống phuộc. Không cựa quậy được, cuối cùng phải bỏ xe dọc đường, đi bộ hơn 8km để về đến đồn Leng Su Sìn, thăm ngôi mộ đất của anh Trần Văn Thọ.

Ngôi mộ anh Thọ nằm trên đồi cao. Hơn 30 năm trước, đây còn là khu rừng đầy lau lách. Anh nằm lại giữa lòng đồng bào Hà Nhì theo đúng cả nghĩa đen, nghĩa bóng. Bà Chu Chà Me, hiện sống ở thành phố Điện Biên nhận anh Thọ là “ân nhân”: “Thọ đi đến từng nhà vận động dọn về ở gần nhau, lập lên bản Leng Su Sìn. Thọ hướng dẫn dân làm lúa nước, lúa nương. Không có cày, Thọ mang cặp nhung hươu (định mang về cho mẹ) về đồng bằng đổi lưỡi cày, lưỡi cuốc mang lên cho đồng bào. Hồi đó chưa có đường, mỗi chuyến đi về mất cả tháng”.

Anh Thọ mất khi đang ở cùng dân bản. Nửa đêm, dân bản khiêng anh về đồn. Cả bản đốt đuốc theo anh đến đó, ngồi khóc. Hôm chôn anh, dân bản lặng lẽ cắt rừng xuống suối nhặt từng viên đá cuội. Một người hai viên, hết chuyến này đến chuyến khác. Nấm mộ anh Thọ được đắp bằng nghĩa đồng bào.

Bên bếp lửa ở A Pa Chải, khi cuộc vui chưa tàn, Đạt, một cậu lính trẻ nhận lệnh đứng dậy đi vào bản. Lát sau trở về, Đạt đã được đồng đội cho lên chức “bố”. Người Mông ở A Pa Chải từ ngày có bộ đội biên phòng đã hình thành một thói quen mới. Họ nhờ bộ đội đặt tên cho con, đồng thời mời bộ đội làm bố đỡ đầu cho đứa bé.

3. Cô giáo Son, Hiệu trưởng trường tiểu học Nậm Kè, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé, Điện Biên là người dưới xuôi. Học xong đại học, cô lên đây nhận công tác vì nhu cầu cần việc làm. Lúc đầu thì ngại, sau quen dần. Hỏi có muốn về xuôi lại không, cô chỉ cười, kể về học trò.

Dọc vùng sơn cước, việc học của bọn trẻ còn lắm gian nan. Trời rét các em bỏ lớp. Đến vụ mùa, lớp vắng hoe, các cô giáo phải về tận nhà gọi học trò. Ở trên này cái chữ chưa đủ hấp dẫn bọn trẻ bằng viên kẹo. Cô Son kể, lắm lúc các cô phải mua kẹo để giữ học trò. Hỏi tiền mua kẹo được trích từ đâu. Cô cười chỉ vào túi xách, “từ lương của bọn mình.”

Dọc tuyến biên cương, những lớp học đã được hình thành. Những trường nằm gần trung tâm xã xem có vẻ còn ra trường. Riêng những điểm trường nằm trong bản, nơi phải lội bộ qua khe, suối đến nay vẫn còn tạm bợ. Có những điểm trường có giáo viên sư phạm đứng lớp. Nhưng vẫn có nhiều nơi, trường do bộ đội biên phòng mở.

Nhưng dù ai đứng lớp cũng vậy, khác với nhiều năm trước, tại những vùng sâu, xa nhất của Tổ quốc, bây giờ đã đều đặn vang lên tiếng trẻ học bài.

Có thể bạn quan tâm