Và như vậy, thời gian biểu cho một kế hoạch hạt nhân sẽ lấy điện hạt nhân (ÐHN) làm trung tâm, làm mốc.
Ta có quyền tự hào về những gì mà ngành NLHN đạt được trong ba mươi năm xây dựng và trưởng thành: từ con số không, đến nay đã có một mạng lưới các viện, trung tâm, bộ môn ở các trường đại học, nhằm nghiên cứu, đào tạo và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ hạt nhân.
Ðó là những ứng dụng, được gọi là phi năng lượng, đã được thực hiện trong y tế (xạ trị, chẩn đoán và điều trị bằng nguồn phóng xạ và máy gia tốc), công nghiệp và môi trường (NDT, NCS, đánh dấu đồng vị phóng xạ để khảo sát sa bồi, dầu dư bão hòa trong giếng khoan cùng quá trình thăm dò, khai thác chế biến dầu khí, thủy văn đồng vị để đánh giá nguồn gốc, tuổi, lưu lượng,... của nước ngầm, theo dõi phông phóng xạ môi trường), nông nghiệp và thực phẩm (tạo giống bằng đột biến phóng xạ, chiếu xạ khử trùng thực phẩm, dụng cụ y tế).
Ðó là những kết quả bước đầu tìm kiếm quặng phóng xạ và nghiên cứu thử nghiệm, với khối lượng rất nhỏ, công nghệ xử lý quặng u-ran của ta, điều chế u-ran kỹ thuật và gốm UO2 gần với yêu cầu của nhiên liệu hạt nhân. Ðó là việc khôi phục và mở rộng lò phản ứng Ðà Lạt, vận hành an toàn và hiệu quả để chế tạo đồng vị phóng xạ, phân tích, nghiên cứu khoa học và đào tạo cán bộ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ lò phản ứng rất cần thiết cho điện nguyên tử, là việc nghiên cứu về quy hoạch và lựa chọn địa điểm cho ÐHN, những vấn đề khoa học công nghệ và kinh tế - xã hội của ÐHN, chuẩn bị cho chương trình phát triển ÐHN dài hạn của đất nước.
Ðó là việc đào tạo được một đội ngũ cán bộ có chuyên môn tốt, nhưng chưa đủ và đồng bộ, nhất là ở các ngành công nghệ năng lượng, còn thiếu vắng những người tài đức, đủ sức đứng đầu để hoàn thành tốt nhiệm vụ của những mũi nhọn chủ yếu trong khoa học và công nghệ NLHN, như tính toán và công nghệ lò phản ứng (thiết kế, chế tạo, thử nghiệm, vận hành lò năng lượng); thăm dò, khai thác, chế biến quặng phóng xạ; chế tạo nhiên liệu trên quy mô công nghiệp.
Hiện nay, có lẽ thách thức lớn nhất mà chúng ta gặp phải trong phát triển NLHN vẫn là con người. Quả vậy, điện hạt nhân và NLHN đòi hỏi từ người công nhân, kỹ thuật viên, kỹ sư, đến công trình sư, tổng công trình sư, nhà khoa học, cũng như những người đứng đầu ngành, một năng lực, thói quen và tác phong làm việc thật sự công nghiệp, khoa học, trung thực, tập thể, cẩn trọng và kỷ luật nghiêm. Họ còn phải là những con người hết lòng dấn thân vì sự nghiệp này.
Thách thức lớn thứ hai thuộc về những quyết định chính xác, táo bạo, khoa học và khôn ngoan. Ðảng và Chính phủ đã xem xét, cân nhắc vấn đề điện nguyên tử không phải một lần và từ hàng chục năm qua, nay đã có quyết định: một tin mừng cho ngành NLHN. Nhưng vẫn còn đó nhiều vấn đề chiến lược và sách lược, kinh tế, khoa học và công nghệ, dự báo tương lai, đối nội và đối ngoại, hết sức phức tạp.
Có nhiều thứ cần quyết định, nhưng lựa chọn loại lò phản ứng và loại nhà máy ÐNT là một trong những vấn đề như vậy. Tất nhiên, điều này trực tiếp liên quan tính năng kinh tế - kỹ thuật, an toàn, dự báo phát triển tương lai của loại ÐNT này, nguồn vốn đầu tư cũng như năng lực và sự tin cậy của đối tác nước ngoài... Tuy nhiên, nó còn phải phù hợp chiến lược phát triển NLHN của đất nước, phù hợp chủ trương nội địa hóa ÐNT đến đâu, nhất là vấn đề nhiên liệu.
Thách thức thứ ba, đó là sự đồng thuận. Ai cũng biết rằng, ngày nay, bất kỳ một chương trình NLHN nào cũng phải được sự đồng thuận của lãnh đạo đất nước, của các nhà quản lý, khoa học và công nghệ, của Quốc hội, của dân chúng, nhất là cư dân gần khu vực nhà máy ÐNT. Ðây phải là một sự đồng thuận thật sự, minh bạch, không áp đặt, thông qua tranh luận, công khai.