Quan hệ buôn bán giữa các nước đã được thiết lập dưới hình thức tổ chức toàn cầu, với Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) và kế tiếp là Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Các nền kinh tế mua bán với nhau thông qua các vòng thương lượng để ký kết các hiệp định thương mại mang tính cam kết và ràng buộc với nhau, có Ban xử lý tranh chấp (DSB) như một trọng tài quốc tế phân xử khi xảy ra xung đột thương mại.
Tính đến nay, thương mại thế giới đã trải qua tám vòng đàm phán lớn. Hội nghị cấp Bộ trưởng tháng 11-2001 tại Doha, Qatar, được mang tên Nghị trình phát triển Doha để xoa dịu các nước đang phát triển, nhưng thực chất là thương thảo để mở các thị trường nông nghiệp và chế phẩm. Những người ủng hộ nghị trình Doha thì nói vòng này cốt để làm cho thương mại công bằng hơn với các nước đang phát triển. Những người phản đối thì cho rằng vòng này mở rộng thêm những luật lệ bất lợi cho phát triển và can thiệp quá mức vào "không gian chính sách" của các nước đang phát triển.
Các cuộc đàm phán Doha bị bế tắc là do Hoa Kỳ và EU không chịu đáp ứng những yêu cầu của các nước đang phát triển về giảm trợ giá cho nông phẩm xuất khẩu, trợ cấp cho nông dân và không chịu hạ thấp hàng rào thuế quan để tạo điều kiện cho các nước đang phát triển tiếp cận thị trường của mình.
Vấn đề trung tâm của vòng Doha là các rào cản bao gồm thuế và trợ cấp mang tính bảo hộ của các nước phát triển chống lại các nước đang phát triển.
Trợ cấp của các nước giàu cho khu vực nông nghiệp được nói đến nhiều với con số 300 tỷ USD hàng năm thực ra không phải hoàn toàn như vậy. Ðó không phải hoàn toàn là tiền của chính phủ bỏ ra cho các chủ nông trại. Theo OECD, phần lớn số tiền 300 tỷ USD đó mà OECD gọi là Ước tính Tổng hỗ trợ (TSE) không phải là tiền chi trả đơn thuần của chính phủ mà còn là số tiền các nông trại kiếm được nhờ bức tường thuế làm cho hàng ngoại nhập khó cạnh tranh đồng thời cho phép các nông trại trong nước tăng giá lên.
Theo OECD, năm 2001 (năm gần nhất có số liệu), tổng cộng TSE tính theo USD bao gồm các nước EU-15 với 114,7 tỷ, Nhật Bản 56,9 tỷ, Hoa Kỳ 95,1 tỷ cùng các nước Australia, Canada, New Zealand, Na Uy, Thụy Sĩ với số tiền nhỏ hơn nhiều, lên tới con số 282,9 tỷ USD. Trong lúc đó, số tiền chính phủ trực tiếp chi trả cho chủ trang trại chỉ là 74,9 tỷ USD. Theo OECD, tính cả hai khoản, tác động làm thương mại biến dạng là 77,5 tỷ. Ðiều này có nghĩa là trong vấn đề nông nghiệp, việc đòi hạ mức thuế còn quan trọng hơn cả đòi xóa bỏ trợ cấp.
Trong mười năm qua, trợ cấp cho các nông trại Mỹ lên tới 143,8 tỷ USD. Khoảng 72 phần trăm (104 tỷ USD) lọt vào tay 10% số nông doanh lớn nhất. Chỉ riêng năm 2005, số tiền trợ cấp đó lên tới 19 tỷ USD. Tờ Bưu điện Washington cho biết, kể từ năm 2000, chính phủ Mỹ đã trả tới 1,3 tỷ USD cho những người không hề biết đến cày bừa, giản đơn chỉ là vì họ sở hữu những đất đai từng là nơi canh tác.
Nông nghiệp rất quan trọng, ngay cả đối với các nước công nghiệp phát triển nhất. Thí dụ, Hoa Kỳ là cường quốc công nghiệp số một đồng thời có nền nông nghiệp rất phát triển, là nhà xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp lớn nhất thế giới. Giá trị xuất khẩu ngô hạt của Hoa Kỳ cao hơn mỹ phẩm, bột mì cao hơn than đá, rau quả cao hơn đồ điện gia dụng. Hoa Kỳ bán ra nước ngoài gần một nửa lượng lúa mì và thóc gạo, một phần ba lượng đỗ tương và thịt và 20% tổng sản lượng ngô hạt. Hai mươi bảy phần trăm thu nhập về nông nghiệp là từ xuất khẩu.
Xuất khẩu nông nghiệp nay tạo ra gần một triệu việc làm cho người Mỹ. Xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp cũng kích thích các hoạt động kinh tế phụ trợ liên quan đến toàn bộ nền kinh tế đất nước. Năm 2004, Hoa Kỳ xuất khẩu 62,4 tỷ USD nông sản đồng thời tạo nên giá trị cộng hưởng 162 tỷ USD với các ngành kinh tế trang trại và nông nghiệp nói chung như hóa nông, cơ khí, kinh doanh nông nghiệp,...
Hoa Kỳ là nước xuất khẩu đứng đầu thế giới được lợi nhất từ một tổ chức thương mại toàn cầu có nhiều quyền lực. Nhờ hạ thấp hàng rào thuế quan trong mấy thập kỷ qua, xuất khẩu của Hoa Kỳ nay chiếm một phần tư tăng trưởng kinh tế của nước này và tạo ra được 10% (khoảng 12 triệu người) trong tổng số việc làm của Hoa Kỳ. Nếu Vòng Doha hoàn thành thắng lợi theo như yêu cầu của Mỹ, mỗi gia đình Mỹ sẽ có thêm 2.000 USD mỗi năm.
Chính phủ Hoa Kỳ sử dụng luật lệ của WTO để loại bỏ các rào cản thương mại đối với hàng hóa của Hoa Kỳ đồng thời lại dựng rào cản ngăn chặn hàng hóa các nước đang phát triển vào thị trường mình.
Thuế là công cụ rất lợi hại đối với việc bảo hộ sản xuất nội địa. Thị trường gạo Nhật Bản là một điển hình chính trị trong kinh tế. Những nhà sản xuất thóc gạo Nhật Bản, tuy nhỏ bé nhưng ảnh hưởng chính trị với Ðảng Dân chủ tự do cầm quyền thì lớn, nên mọi chủ trương về nhập khẩu gạo được chính phủ cân nhắc rất kỹ. Hoa Kỳ là nước xuất khẩu gạo nhiều nhất sang Nhật Bản, trung bình khoảng 200.000 tấn/năm. Thuế cao tới 490% đã làm nản lòng các nhà xuất khẩu Mỹ và Australia muốn bán vượt số lượng theo hạn ngạch 770.000 tấn miễn thuế hiện nay. Người dân Nhật Bản phải trả đắt gấp sáu lần giá gạo thị trường thế giới. Nhưng theo Ngân hàng dữ liệu gạo Nhật Bản, Chính phủ nước này trợ cấp trực tiếp cho các nhà sản xuất từ ba đến bốn tỷ yên cho chi phí sản xuất.
Nước Mỹ là quốc gia xuất khẩu gạo lớn thứ ba thế giới, mặc dù chi phí sản xuất gạo của nước này cao hơn gấp hai lần so với hai quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu là Thái-lan và Việt Nam. Ðó là do trợ cấp của chính phủ cho các trang trại trồng lúa: năm 2003, chính phủ Mỹ trợ cấp các trang trại trồng lúa 1,3 tỷ USD, thực tế là ngân sách gánh chịu tới 72% giá thành sản xuất.
Liên hiệp châu Âu (EU) cũng không chịu kém.
EU chiếm 18% lượng đường xuất khẩu trên thế giới, 28% lượng sữa và khoảng 8% lượng lúa mì xuất khẩu (đang tăng nhanh). Mặc dù giá thành cao hơn các nước, nhưng nhờ nhiều hình thức trợ cấp của Chính sách nông nghiệp chung (CAP), nên các sản phẩm như đường, sữa, bột mì có thể bán đi các nước với giá thấp hơn giá thành. Theo nghiên cứu của Oxfam, bột mì, sữa bột và đường được bán thấp hơn giá thành lần lượt là 34 phần trăm, 50 phần trăm và 75 phần trăm chi phí sản xuất. Năm 2001, Pháp là nước nhận được tài trợ nhiều nhất từ ngân sách 41,53 tỷ ơ-rô của CAP với 21%, Tây Ban Nha 14,8%, Ðức 14,1% và Italy 12,8% (EC Website, 1-10-2002). Năm 2002, trợ cấp trang trại tăng lên 46,5 tỷ ơ-rô, chiếm gần một nửa ngân sách EU.
Số trợ cấp đó được phân phối hết sức không công bằng. Trong số 4,5 triệu chủ trang trại của toàn EU, chưa tới 2.000 trang trại lớn chia nhau gần 1 tỷ ơ-rô. Trong lúc đó, 95% nông trại Bồ Ðào Nha chỉ nhận được trợ cấp 5.000
ơ-rô/năm; con số đó ở Anh là 43%. Nhưng nước Anh còn có đến 380 đại điền chủ nhận được quá con số trần 300.000 ơ-rô được đề nghị giữa nhiệm kỳ của EC (theo EC Website). Tình hình đó dẫn đến sự thu hẹp diện tích canh tác và số người làm nông nghiệp ở các nước có diện tích đất nông nghiệp lớn như Tây Ban Nha, Italy, Hy Lạp... chỉ còn bằng một phần năm so với năm 1950. Kết quả là có nhiều nông dân đi tìm việc làm ở các đô thị như ở các nước đang phát triển, làm tăng áp lực đối với công nhân đang làm ở các xí nghiệp.
Bế tắc của Vòng đàm phán Doha của WTO là do mẫu thuẫn trong vấn đề nông nghiệp. Những rào cản liệt kê dưới đây đối với một số sản phẩm đáng cho ta lo ngại khi bước chân vào đại siêu thị WTO: Nhật Bản đánh thuế gạo 886,7%, mì 214,4%, đường 227%, thịt bò 38,2%. Na Uy đánh thuế gạo 29,1%, mì 208,4%, thịt bò 222,7%. EU-15 đánh thuế gạo 110,8%; Hoa Kỳ đánh thuế đường 24,2%. Nếu cộng cả thuế và trợ cấp, rào cản Nhật Bản với gạo lên tới 1.023,1%; EU-15 lên tới 137,8%; Na Uy rào cản thịt bò lên tới 284,9%, mì 237,8%; Hoa Kỳ 26,8% về gạo, 30,6% về sữa.
Ðây là nói về lương thực, thực phẩm, nếu nói đến lĩnh vực khác như bông sợi thì Hoa Kỳ là kẻ đáng bị lên án nhất bởi sau khi từ bỏ chính sách quản lý cung ứng trong Luật Trang trại năm 1996, bông sợi của Hoa Kỳ từ năm 1997 đến 2003 được bán với giá bình quân thấp hơn 48,7% chi phí sản xuất. Nói cách khác, ngót một nửa sản lượng bông Mỹ xuất khẩu là phá giá. Và Hoa Kỳ đã tăng thị phần bông thế giới từ 17% lên 42% từ 1998 đến 2003.
Việt Nam gia nhập WTO vào lúc tổ chức này đang đứng trước một khó khăn cực kỳ to lớn: tháng 7-2006, Vòng đàm phán thương mại Doha thứ chín đã bị đình hoãn vô thời hạn.
Việt Nam một mặt phải đối diện với hàng nhập khẩu được trợ giá của nước ngoài, mặt khác phần trợ cấp, trợ giá cho hàng hóa của ta bị thu hẹp hoặc phải cắt ngay lập tức khi tham gia WTO, vẫn là một vấn nạn của các nước đang phát triển. Ðó là trường hợp sữa ở Ấn Ðộ, bông vải ở Tây Phi, cà-phê, ca-cao, chè ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Colombia, Brazil, Bờ Biển Ngà...
Hàng rào thuế nông nghiệp bình quân của các nước trên thế giới là 63%, Mỹ và Canada là 110% (không nói những mức thuế "siêu cao" ở Nhật Bản, Na Uy, Thụy Sĩ). Thế nhưng mức áp đặt cho ta là 13%. Cuộc đấu tranh giữa các nước phương bắc và các nước thuộc thế giới thứ ba trên lĩnh vực nông nghiệp còn rất phức tạp và dai dẳng.