Bên triền núi Vườn Vàng và Nước Hai, huyện Phú Lương, thấp thoáng đây đó những chiếc chòi nhỏ kiểu nhà sàn. Sáng sớm, đứng bên một dốc đá, nhìn hun hút thấy toàn mầu xanh cây lá. Chúng tôi phăm phăm leo lên lưng con dốc, chừng nửa giờ đã đứng dưới chân chiếc chòi gần nhất. Có tiếng lách cách trên sàn, tôi đoán ông chủ rừng đã thức dậy, đang rón rén bước đến bên khe cửa, trên tay chắc chắn sẽ có khẩu súng săn. Rồi cánh cửa được làm dưới bụng chiếc chòi được lật lên, một người đàn ông vạm vỡ bước xuống và mời chúng tôi lên sàn uống nước. Nhìn chung quanh trong nhà thấy có chiếc chiếu mét hai làm chỗ ngủ, một góc bên khung cửa sổ xinh xinh dùng làm chỗ uống nước, nấu ăn... Những chiếc chòi như thế này được người dân bản Ó, xã Yên Lạc, huyện Phú Lương dựng lên làm nơi ở để trồng rừng, canh rừng và làm kinh tế rừng.
Chủ rừng là ông Hoàng Văn Xe, 50 tuổi, nhà dưới bản Ó. Từ hơn mười năm trước, ông lên vùng này phát dọn đất, bãi, cuốc hố trồng rừng. Ông kể: Trước đây, khu này chỉ có sim, mua, lau, chít mọc rậm rì, khi tôi có ý định phát dọn lấy đất trồng rừng, nhiều người bảo: Mình ở rừng, thiếu gì củi mà lại bỏ tiền đi trồng cây lấy củi? Kệ. Tôi vẫn lên rừng ở với mong muốn có một rừng cây cho riêng mình. Mỗi năm trồng một khoảnh, vốn đầu tư mua cây giống chủ yếu do vợ bán gà, lợn, thóc... mang lên, Nhà nước chẳng hỗ trợ được mấy... Ðến nay, tôi đã có một khu rừng rộng 20 ha.
Ði dưới tán lá xanh hăng hắc mùi nhựa cây, bàn chân đặt lên lớp lá ẩm mục, mềm như nệm, chúng tôi biết để hồi sinh được một vùng đồi, núi vốn trước đây trọc lốc, những người trồng rừng như ông Xe phải bỏ nhiều mồ hôi, công sức, thậm chí phải thức trắng nhiều đêm trăng để phát cây, đốt dọn bãi, cuốc hố... rồi đặt cây, lủi thủi trên lưng núi mà chưa biết tiền của mình bỏ ra rồi sẽ ra sao? Bởi từ nhiều đời trước đây, con người ta chỉ quen với việc lấy của rừng chứ chưa bao giờ nghĩ đến việc trả lại mầu xanh cho rừng. Vì suy nghĩ như thế, nên từng mảng rừng đổ xuống, hết năm này sang năm khác, khi âm thầm, lúc công khai, để lại một hậu quả đất trống, đồi núi trọc với lũ ống, lũ luồng, hạn hán... Và khi trong bản Ó, có một số người dân bảo nhau lên núi trồng rừng với tâm niệm đất đai là vốn tài sản quý giá nhất. Hoặc suy nghĩ sâu xa hơn: Trồng rừng là cách làm bảo vệ thiên nhiên và để của cho con, cháu sau này. Trái lại, ngay ở bản Ó, một số người nhận đất, không trồng rừng mà sang tay cho người khác để lấy tiền xây nhà, mua xe máy, sắm ti-vi... Bây giờ trong số người bán đất rừng, nhiều người phải đi làm thuê, kiếm tiền công đong gạo ăn từng ngày.
Men theo con đường dưới chân núi, lội qua từng đoạn khe cắt ngang đường, nước róc rách hờ hững mơn chớn vào bắp chân, dịu êm. Tôi nhẩm đếm: Từ ngoài xóm Ó vào đến chòi canh rừng của ông Xe phải lội qua bảy khe suối, có nước chảy quanh năm. Còn đến khu rừng của ông Thạch Quang Hưng, người có khu rừng liền kề với rừng của ông Xe, chúng tôi phải lội qua năm khe suối. Nhớ lại ít năm trước, chúng tôi đã đi bộ vào khu núi Vườn Vàng, thấy có nhiều người mang cây giống lâm nghiệp lên trồng rừng, chúng tôi hiểu nông dân vùng núi này đã tìm được một hướng mở trong phát triển kinh tế. Cũng chuyến đi rừng ấy, ông Hưng đã đưa tôi vào thăm nhà và say sưa kể cho chúng tôi nghe về công việc trồng rừng, về những năm tháng khó khăn nhất của cuộc đời mình. Bấy giờ, vào khoảng những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, ông Hưng lấy vợ, ra ở riêng, vợ chồng chỉ có chừng một tạ thóc, vài cái cuốc, mấy cái nồi... Ông Hưng bảo: Mình nghèo quá, ở trong bản cũng ngại, nên mới rủ vợ vào trong khu núi hoang này ở. Hằng ngày cuốc đất trồng sắn, trồng lúa lấy lương thực, chỉ hơn... vợ chồng cụ "Mai An Tiêm" ngoài đảo hoang là còn được ra ngoài chợ mua thêm mấy cân muối, chai dầu thắp. Trong năm tháng khó nhọc ấy tôi đã dành dụm vốn mua cây giống về trồng rừng. Khi thấy cây đặt xuống, lên bời bời, tôi mừng lắm, vậy là mỗi năm trồng thêm trên một mảnh nương, tiền vốn cũng từ bán sắn, bán lợn, gà đầu tư mua cây giống. Còn nhân công, chỉ có vợ chồng tôi làm. Thấy chúng tôi có bao nhiêu tiền đều đầu tư lên rừng, có người hỏi sao không về bản làm nhà cho thuận tiện. Tôi bảo: Mình thích ở rừng, được tự do, được hít thở không khí trong lành. Vậy mà có người bảo đúng là đồ hâm... Lần trở lại này, khu rừng keo sau nhà ông Hưng cũng đã cao vượt đầu người, nhưng là thế hệ rừng được trồng lại lần hai. Từ bốn năm trước, ông Hưng đã bán chừng năm ha rừng, mỗi ha thu được khoảng 100 triệu đồng.
Bây giờ chúng tôi đang ngồi trên sàn ngôi nhà ba gian, hai chái lợp ngói đỏ au, thấy trước nhà có đàn gà cục tác gọi con, phía xa hơn là rừng cây xanh mướt. Ông Hưng cho biết: Mất nhiều năm tôi mới mở được thêm đoạn đường cho xe ô-tô từ trục đường chính của xóm vào nhà mình. Còn ngôi nhà này tôi mới hoàn thiện, chuyển vào ở từ sau Tết Nguyên đán năm 2011, tiền làm nhà, mua sắm tiện nghi cũng đều từ rừng mà ra...
Từ một hộ nghèo, nay ông Hưng trở thành một nông dân tiêu biểu của huyện. Hỏi bí quyết làm giàu, ông mộc mạc: Bí quyết gì đâu, có người chọn cách ra phố buôn bán, có người ở nhà chăn lợn, tôi chọn đường lên núi ở để trồng rừng... Thế mới hay mỗi người có cách lựa chọn cho mình một lối đi riêng, nhưng không phải ai cũng thành công như ông Hưng. Ngay ở bản Ó, cũng có người chọn lối lên núi trồng rừng, làm giàu, nhưng "họa vô đơn chí", chỉ một chút sơ sểnh cả khu rừng cháy thành tro bụi. Vậy là mồ hôi, công sức, tiền của biến thành mây khói. Song vì yêu mầu xanh mát dịu, nhiều người dân xóm Ó vẫn lên núi làm nghề trồng rừng. Họ bảo nhau cùng rút kinh nghiệm, không lặp lại thất bại của người đi trước, trong số đó có ông Nguyễn Thanh Quyết, một nông dân năng động của bản Ó. Qua trò chuyện chúng tôi biết: Gia đình ông Quyết có cửa hàng kinh doanh phân bón, có xưởng xẻ gỗ tạo việc làm thường xuyên cho năm lao động địa phương, riêng chăn nuôi ông xuất bán được gần 10 tấn lợn thịt/năm. Hằng năm, sau khi đã trừ chi phí đầu tư, chi trả tiền công cho người lao động, ông Quyết còn được lãi hơn 70 triệu đồng. Song là người yêu mầu xanh thiên nhiên, ông vẫn dành thời gian, tiền bạc để đầu tư trồng được chín ha rừng. Rừng nhà ông Quyết đến nay cũng được hơn năm năm tuổi, cây đều tắp, đường kính có cây đạt hơn 20 cm, dự kiến khi thu hoạch bán được 100 triệu đồng/ha. Ông Quyết cho biết: Làm rừng không giàu nhanh như làm dịch vụ, nhưng được cái bền, chắc. Hơn thế nữa, hằng ngày vào rừng, được hít thở không khí trong lành, nghe tiếng chim hót, tôi ước mình có thêm nhiều đất để trồng rừng.
Ði dưới lòng khe nước được chắt ra từ chân núi Vàng, chúng tôi nghĩ, dòng nước mát lành này được đổi bằng mồ hôi của những người như ông Quyết, ông Hưng... và nhất là khi ngồi trong chiếc chòi canh rừng của ông Xe, người được Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc thực hiện Chương trình trồng mới năm triệu ha rừng năm 1999 - 2010, tôi mới cảm nhận được phần nào gian khổ những người yêu mầu xanh của rừng, họ không tiếc mồ hôi công sức, sẵn sàng chịu sống thiếu thốn để đổi lấy mầu xanh cho rừng. Ngay như lúc này, kiểm cây, tính diện tích, không ít chủ rừng ở xóm Ó có trong tay tiền tỷ, nhưng tiền đang là cây đứng trên rừng, còn người trồng rừng tiếp tục đầu tư chăm bẵm, để chẳng mấy nữa rừng hóa thành "vàng" trong tay mỗi người.