Những người được gặp Bác Hồ ở Tây Nguyên

NDĐT - Bác Hồ chưa có dịp đến Tây Nguyên và những người may mắn được gặp Bác hiện còn sống cũng không nhiều. Vì vậy, mỗi khi có dịp trò chuyện với họ về những lần được gặp Bác thì ai cũng cho rằng, đó là những thời khắc, những kỷ niệm sâu đậm, khó quên nhất trong cuộc đời.

Lãnh đạo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên thăm và tặng quà cho ông Nông Quốc Tuấn, ở thôn 8 xã Nam Dong, huyện Cư Giút, tỉnh Đác Nông.
Lãnh đạo Ban Chỉ đạo Tây Nguyên thăm và tặng quà cho ông Nông Quốc Tuấn, ở thôn 8 xã Nam Dong, huyện Cư Giút, tỉnh Đác Nông.

Nhân kỷ niệm 126 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng tôi về thôn 8 xã Nam Dong, huyện Cư Giút, tỉnh Đác Nông tìm gặp ông Nông Quốc Tuấn, năm nay đã ngoài 90 tuổi, là chiến sĩ liên lạc của Bác Hồ giai đoạn 1941-1945.

Dù tuổi đã cao, sức yếu, thời gian phục vụ cho Bác cũng đã lâu, nhưng mỗi khi nhắc lại thời gian được ở bên Bác, mắt ông lại sáng ra và người ông cũng hoạt bát hơn, ông lần hồi đưa chúng tôi trở lại quá khứ.

Ông Tuấn tên thật là Nông Văn Sỹ, sau này được Bác Hồ đổi lại thành Nông Đình Tuấn, rồi Nông Quốc Tuấn. Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Hòa Mục, xã Nà Sác, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Năm lên 15 tuổi, ông được đồng chí Lê Quảng Ba, nguyên Tư lệnh đầu tiên của Quân khu Việt Bắc giới thiệu, cho đi theo tổ chức Nhi đồng cứu quốc của huyện Hà Quảng.

Là người sinh ra và lớn lên ở đây, Nông Quốc Tuấn thông thạo địa bàn nên ông được giao nhiệm vụ bí mật đưa đón, dẫn đường cho các cán bộ cao cấp của ta mỗi khi đi công tác ở Hà Quảng. Năm 1941, khi Bác Hồ về nước, đồng chí Lê Quảng Ba đứng ra bảo lãnh và giới thiệu ông với Bác. Từ đó, ông làm nhiệm vụ chiến sĩ liên lạc cho Bác tại Cao Bằng.

Ông Tuấn nhớ lại: “Những tháng năm ở hang Pác Bó thuộc xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, ngày nào Bác cũng dậy từ rất sớm tập thể dục, ăn sáng rồi ngồi vào bàn đá làm việc đến tận trưa. Những lúc ấy, tôi lo cảnh giới và giặt giũ quần áo, dọn dẹp nhà cửa, ra suối lấy nước. Vì không có đồng hồ nên khi nào Bác bảo nấu cơm trưa thì tôi đi nấu. Ăn trưa xong, Bác lại ngồi làm việc cho đến cuối chiều. Buổi tối, Bác thường ngủ sớm, vì thắp đèn dầu không đủ ánh sáng. Những lúc giải lao, Bác thường gọi tôi vào, dạy tôi tập đọc, tập viết, tập làm toán. Hằng tuần, tôi đều đi nhận tiếp tế thực phẩm ở khu vực biên giới về phục vụ Bác.

Những ngày chuyển về Lũng Cát, Hà Quảng, mùa đông trời rất lạnh, nằm trong hang đá rét căm căm. Một hôm, trong lúc ăn cơm chiều, đột nhiên Bác bảo: “Đêm nay, Bác cháu ta đắp chung chăn cho ấm”. Đêm ấy, được nằm gần Bác, thấy ấm quá tôi ngủ rất ngon lành!”, ông Tuấn kể.

Cũng theo lời ông Tuấn, khi theo Bác từ Pác Bó về đến Tân Trào, hằng ngày, ngoài ông ra còn có 11 đồng chí khác cùng bảo vệ và làm liên lạc cho Bác đến năm 1945. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Bác Hồ chuyển về Hà Nội. Ông Tuấn được cử lên Thái Nguyên, thành lập trung đội dân quân, bảo vệ các cơ quan trọng yếu của tỉnh. Lúc chia tay, Bác chỉ dặn dò: “Cháu hãy phát huy những tố chất và tính tốt như khi ở bên Bác. Bác chẳng có món quà gì tặng cháu cả, chỉ có thứ này thôi. Mỗi lần mỏi mệt, cháu hãy lấy một chút ra nhâm nhi, dùng nhiều không tốt đâu”. Mãi về sau ông mới biết đó là miếng mật gấu, khi ở chiến khu, bà con mang biếu Bác. Bác không dùng mà nhường lại cho ông.

Cuối năm 1946, ông Tuấn được điều về Hà Nội làm liên lạc cho đồng chí Lê Quảng Ba (khi đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thủ đô). Khi đặt chân đến Hà Nội, ông Tuấn tìm gặp Bác. Năm 1952, ông Tuấn về quê làm bí thư chi bộ Hợp tác xã nông nghiệp rồi xây dựng gia đình ở đây. Khi con trai đầu lòng của ông là Nông Văn Chung, sinh năm 1961, vừa biết bò, Bác Hồ bất ngờ đến thăm. Bận rộn, Bác chỉ kịp bế Chung vào lòng, hỏi thăm gia cảnh của ông một lát rồi đi ngay. “Đó là lần cuối cùng tôi được gặp lại Bác. Năm 1990, tôi đưa cả nhà vào Tây Nguyên lập nghiệp. Đến nay đã sống gần trọn cuộc đời nhưng tôi vẫn luôn nhớ về những ngày tháng được ở gần Bác”, ông Tuấn nói.

Chính trong thời gian được sống gần Bác, với lối sống giản dị và tiết kiệm của Bác đã ảnh hưởng đến lối sống, tính cách của ông Nông Quốc Tuấn cho đến ngày nay. Ngay từ khi còn ở Cao Bằng cũng như sau này vào sinh sống tại xã Nam Dong đến nay, người dân quanh vùng luôn kính trọng ông không chỉ là vị lão thành cách mạng, người được phục vụ Bác Hồ mà còn là người có lối sống thanh bạch, giản dị và gương mẫu. Vì vậy, mỗi ngày lễ, Tết, đông đảo cán bộ, người dân, đặc biệt là thanh niên ở địa phương đều đến thăm ông và nghe ông kể những câu chuyện được ở bên Bác Hồ.

Ở tỉnh Gia Lai, theo điều tra của Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Gia Lai và Kon Tum, có đến hơn trăm người có vinh dự được gặp Bác Hồ trong những tháng năm được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện cho ra bắc học tập, công tác. Trong số họ bây giờ, nhiều người đã mất, những người còn lại tuổi đã cao không còn công tác nhưng mỗi khi có dịp trò chuyện, trao đổi với họ về những lần được gặp Bác, được Bác trò chuyện, thăm hỏi thì ai cũng cho rằng đó là những thời khắc, những kỷ niệm để lại những ấn tượng sâu đậm, khó quên nhất trong cuộc đời...

Ông Nay Quách, dân tộc Gia Rai, nguyên là Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Gia Lai, người có vinh dự bốn lần được gặp Bác Hồ kể: “Lần đầu tiên, tôi được gặp Bác là vào năm 1954. Khi ấy, chúng tôi vừa từ Tây Nguyên ra học ở Trường cán bộ dân tộc T.Ư miền nam đóng ở Hà Nội. Vừa mới nhập trường, nơi ăn ở vẫn chưa ổn định thì đồng chí Y Ngông Niê Kđăm, Hiệu trưởng đến thông báo, vài hôm nữa sẽ vào Phủ Chủ tịch biểu diễn cho Bác Hồ và các đại biểu. Chúng tôi ai nấy đều phấn khởi nhưng cũng rất lo và ráo riết luyện tập các tiết mục. Khoảng hai hôm sau, chúng tôi được các chú ở trường đưa vào Phủ Chủ tịch, đến nơi mới biết không chỉ có chúng tôi mà còn có khá đông các bạn ở các tỉnh ở phía bắc nữa. Khi chúng tôi đang ở phía sau hóa trang chuẩn bị cho các tiết mục thì nghe thông báo Bác đến, thế là tất cả chạy ùa ra sân, đến nơi Bác vừa từ ô tô bước xuống. Không ai chịu nhường ai, chúng tôi cùng đưa tay về phía Bác với mong muốn là người đầu tiên được nắm tay Bác, bỗng Bác bảo: “Các cháu đây được Bác bắt tay nhiều rồi, bây giờ ưu tiên cho Tây Nguyên, các cháu Tây Nguyên đâu?”. “Chúng cháu đây ạ!”, chúng tôi đồng thanh thưa, rồi Bác lần lượt bắt tay từng người một, chúng tôi ai cũng sung sướng, tự hào… Lúc biểu diễn, tôi cùng các anh Siu Pơi, Nay Kha, Y Khưu... đóng khố, cởi trần biểu diễn tiết mục “Múa khiên” của dân tộc Gia Rai, Bác ngồi ở dưới chăm chú xem, nửa chừng Bác bảo: “Các cháu tạm nghỉ, xuống mặc áo ấm vào không thì sưng phổi đấy!!!”.

Ông Nay Quách còn kể lại những lần gặp Bác sau này nữa, cuối cùng ông nói: “Sau đó, đoàn chúng tôi vào nam phục vụ chiến trường, có lúc đội bom mà biểu diễn nhưng nhớ những lời Bác dạy, những tình cảm Bác dành cho, chúng tôi ai cũng ngầm hứa là sẽ không ngừng học tập sáng tạo để phục vụ tốt hơn”.

Còn bà H’Ben, dân tộc Ba Na, năm nay đã ngoài 70 tuổi, nhớ lại: “Tôi có nhiều lần vinh dự được biểu diễn cho Bác xem nhưng ấn tượng nhất là hôm biểu diễn cho Bác xem vào năm 1967, trước khi chúng tôi lên đường đi lưu diễn dài ngày ở các nước Liên Xô (cũ), Cu-ba, Trung Quốc, Hung-ga-ri… Kết thúc buổi biểu diễn, Bác cho gặp các diễn viên, ân cần động viên, phát kẹo và hỏi từng người: “Cháu xin bao nhiêu viên đây?”. Ai cũng nhanh nhảu xin Bác nhiều nhiều… đến lượt tôi Bác hỏi: “Thế còn cháu, xin Bác bao nhiêu?”, tôi thật thà: “Cháu xin một viên thôi ạ!”.

Qua những câu chuyện của những người vinh dự được gặp Bác Hồ hiện còn sống ở Tây Nguyên, Bác là lãnh tụ nhưng thật giản dị và gần gũi vô cùng. Với họ, Bác Hồ là hơi thở, là cuộc sống của họ. Vì thế, trong thời kỳ kháng chiến cứu quốc cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hôm nay, hình ảnh Bác Hồ luôn sống trong tim họ. Tin tưởng, hướng về Bác, những người được gặp Bác Hồ nói riêng, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung nguyện luôn phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo xây dựng buôn làng, quê hương ngày càng ấm no, giàu đẹp.

Bà H’Yiêng Đak Chắt ở buôn Bu Yúk, xã Đác Phơi, huyện Lắc, tỉnh Đác Lắc, là người vinh dự được gặp Bác Hồ năm 1964 tại Hà Nội đang kể cho con cháu nghe về lần được gặp Bác.

Có thể bạn quan tâm