Những trang giấy thấm màu thời gian, trên đó, từng nét chì, chì than như đượm hơn, gợi ký ức về một thời đã qua của đất và người, nơi họa sĩ từng gắn bó. Đồng thời, ở đó, chứa đựng nhiều giá trị thẩm mỹ thông qua cách dựng chân dung ký họa nhân vật của một họa sĩ tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương khóa 12 (1938-1943).
Trên cả hai bức ký họa, tác giả chọn quan sát nhân vật ở góc nhìn nghiêng, theo chiều từ trái sang phải, trong khoảng 90 độ. Từ vị trí quan sát đó, manchette Nhân Dân được mô tả nổi bật, thuận mắt nhìn của người xem. Cũng thuận theo dáng ngồi đọc báo của nhân vật, tác giả lựa chọn khổ giấy phù hợp để thể hiện, vừa làm nổi bật nội dung ký họa nhân vật đang đọc tờ báo của Đảng với nhiều lớp ý nghĩa xã hội, vừa tô đậm vẻ đẹp đời thường, nữ tính của nhân vật với phần trang phục được tập trung miêu tả kỹ lưỡng, tinh tế.
Ở bức ký họa theo khổ dọc của tờ giấy, nhân vật là người dân tộc Tày với đặc điểm nổi bật từ tấm khăn vấn buộc phía sau đỉnh đầu cùng vạt áo dài. Nét chì đậm nhạt để thể hiện độ sáng tối, tạo khối của phần khăn vấn gọn gàng. Nhân vật ngồi trên một bục kê nhỏ, co đầu gối lại, toàn bộ phần thân hơi ngả về phía trước, bộ dạng hoàn toàn thoải mái. Phần thắt lưng và vạt áo dài buông phía sau mềm mại tự nhiên nhờ những nét cong ngắn để định hình bề ngang, nét lượn dài, mảnh, tụ lại bên nhau, xuôi theo chiều từ trên xuống để gợi dáng áo, dáng của chiếc thắt lưng. Chỉ riêng các chi tiết tà áo, tấm khăn vấn và phần cổ áo tròn, hơi đứng nhờ vạt chì đậm nét hơn, đã góp phần chỉ dẫn đặc trưng tộc người của nhân vật.
Tờ báo được đưa lên ngang tầm mắt, thả dài toàn bộ theo chiều từ trên xuống, vừa chạm đầu bàn chân của nhân vật. Điểm đáng chú ý là ngoài chi tiết manchette Nhân Dân được tác giả chú trọng mô tả, các chi tiết khác trên trang báo, như các ô bài viết, hình ảnh, tiêu đề bài viết, dòng chữ nội dung… đều được gợi lên qua đường nét mờ nhạt. Họa sĩ tập trung thể hiện ánh sáng trong bức vẽ, bao gồm từ phần bờ vai, nửa gương mặt nhân vật và trang báo, đem tới cảm giác có một luồng sáng chiếu rọi từ phía sau nhân vật. Hai bàn tay vẻ thô tháp, rắn rỏi của một người nông dân, cầm tờ báo một cách chắc chắn, thể hiện sự chú tâm dành cho tờ báo cũng như việc đọc báo của mình.
Ở bức tranh thứ hai, theo chiều ngang, nhân vật gấp tờ báo lại theo dáng ngồi hơi duỗi đôi chân về phía trước. Cách nhân vật cầm tờ báo cho thấy việc ký họa của họa sĩ là hoàn toàn tự nhiên, không gợn sự bố trí “để vẽ”. Manchette Nhân Dân được đi nét đậm. Tác giả còn ghi chú bên trên: “Chị Mán trắng đọc Báo Nhân Dân”. “Mán trắng” là một cách gọi phổ biến trước năm 1975, chỉ đồng bào H’Mông. Ở đây, chiếc váy xếp ly màu trắng và chiếc khăn xếp tròn là chỉ dấu quan trọng. Tác giả chú ý miêu tả khá kỹ lưỡng, tinh tế phần phụ kiện trang sức làm đẹp của nhân vật nữ, với bộ vòng đeo cổ, nhẫn đeo ở bàn tay phải cùng độ chuyển sắc màu của phần thân áo trên, để thấy có sự khác nhau về các mầu và đường nét trang trí trên vải, cho dù họa sĩ chỉ dùng chì và chì than, ở nhiều sắc độ. Ánh sáng trên bức ký họa thứ hai cũng được tập trung nơi gương mặt nhân vật, đang nhìn xuống tờ báo. Đôi tay chị cầm tờ báo thật dịu dàng, khóe miệng hơi cong lên, như mỉm cười.
Trong lúc đọc báo, trang phục và dáng vẻ của hai nhân vật đều chỉn chu. Cách thể hiện như vậy của tác giả cho thấy sự trân trọng của ông dành cho tờ báo và việc đọc báo của nhân vật. Có lẽ, khi quan sát nhân vật, họa sĩ đồng thời cảm nhận được sự coi trọng tờ báo của họ nên thật nhanh chóng thể hiện điều đó qua từng nét bút. Việc họa sĩ lựa chọn hình ảnh những thường dân miền núi cao đang đọc Báo Nhân Dân để ký họa còn cho thấy mối quan tâm của ông đến thực tế trình độ nhận thức của bà con vùng cao khi đã thông thạo tiếng Việt.
Hai bức ký họa chân phương, tự nhiên của họa sĩ Văn Bình gợi lên trong người viết nhiều câu hỏi khác mà có lẽ, chỉ câu trả lời từ chính họa sĩ mới đủ sự thuyết phục. Nhưng tiếc là, họa sĩ rời cõi tạm năm 2004, hơn 20 năm trước khi chúng tôi có cơ may tiếp cận những ký họa này.
Lần mở lại nhiều trang tư liệu lịch sử mỹ thuật có được, chúng tôi cũng chỉ ghi nhận thông tin ít ỏi về họa sĩ trong thời gian gắn bó với núi rừng và đồng bào vùng núi cao phía bắc. Trước năm 1954, họa sĩ Văn Bình tham gia cách mạng và công tác tại Liên khu bốn. Hòa bình lập lại, kể từ năm 1955, ông về làm giảng viên và công tác giáo vụ tại Trường Mỹ thuật Việt Nam (nay là Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam), cho đến khi nghỉ hưu, năm 1979. Đây hẳn là khoảng thời gian mà ông có những chuyến đi thực tế sáng tác, hoặc dẫn sinh viên đi thực tập ở vùng núi phía bắc, cũng là khoảng thời gian mà tiếng Việt được phổ cập ngày càng sâu rộng tới bà con các dân tộc thiểu số; việc đọc sách báo để tiếp nhận thông tin, tri thức của bà con cũng ngày càng được Đảng và chính quyền quan tâm.
Tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, trong phần trưng bày về hội họa sơn mài, có ba bức tranh của ông, nhan đề “Vịnh Hạ Long” (90x120,5cm, năm 1955); “Tre và chuối” (66,8x100cm, năm 1958), ghi lại một khung cảnh bờ ao làng quê Đồng bằng Bắc Bộ và “Bản Nậm Nà” (115,7x175,3cm, năm 1961), ghi lại phong cảnh ở bản làng hoang sơ thuộc huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tại thời điểm sáng tác.
Theo lời kể từ anh Thắng, người con trai thứ của ông, đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mời họa sĩ Văn Bình thể hiện một bức hội họa sơn mài khác về Vịnh Hạ Long để làm quà tặng Tổng thống Indonesia Sukarno, nhân chuyến thăm của ông tại Hà Nội, năm 1959. Việc này thể hiện niềm tin của lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta về sự nghiêm cẩn trong sáng tác với chất liệu truyền thống cũng như sự sáng tạo của ông trong dòng tranh thể hiện vẻ đẹp của quê hương đất nước. Ông là một trong những họa sĩ được trao tặng Giải thưởng Nhà nước vềVăn học Nghệ thuật đợt 1, năm 2001.
Về việc không ký tên và đề ngày tháng năm trên các bản ký họa, cũng theo chia sẻ từ anh Thắng, họa sĩ Văn Bình không có thói quen này. Sau, khi có người ngỏ ý muốn mua lại và nếu họ đề nghị ký, ghi rõ ngày tháng vẽ thì ông cũng đáp ứng. Vì thế, mới có một vài bức ký họa bằng chì, chì than hoặc màu nước mà chữ ký của ông lại bằng màu mực khác; “lúc đó, có khi ông tiện thấy chiếc bút nào là dùng luôn”, anh Thắng nhớ lại.
Một vài sơ phác về tác giả của hai bức ký họa bà con đồng bào dân tộc thiểu số đọc Báo Nhân Dân có lẽ là đủ để tiếp tục dẫn dụ chúng ta trở lại với vẻ đẹp toát lên từ sự chân thực, nét vẽ tự nhiên, tài “bắt hình” của họa sĩ để có những hình ảnh nhân vật thanh thoát, sinh động trên trang giấy. Ở đó, hòa quyện giá trị thẩm mỹ và tri thức mà sự quan tâm, trân trọng những giá trị ấy kết hợp tài năng, sự nhuần nhị trong từng nét bút của họa sĩ mới có thể truyền tải trọn vẹn.
(*) Hơn 100 ký họa của cố họa sĩ Văn Bình, trong đó có hai bức này, hiện thuộc một bộ sưu tập tư nhân, tại Hà Nội.