Khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa
Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh nhấn mạnh, nghị quyết đã thể chế hóa kịp thời, tương đối đầy đủ các chủ trương lớn tại Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị với 10 nhóm chính sách mang tính khả thi cao. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn chia sẻ, đây là dấu mốc lập pháp quan trọng, cho thấy quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị trong việc khơi thông nguồn lực, hoàn thiện thể chế và tạo điều kiện để văn hóa trở thành động lực phát triển trong kỷ nguyên mới.
Điểm đột phá cốt lõi của Nghị quyết thể hiện ở việc lần đầu tiên các định hướng lớn về phát triển văn hóa được cụ thể hóa thành một hệ thống chính sách toàn diện, đồng bộ, có tính khả thi. Trước đây, không ít chủ trương dừng lại ở tầm định hướng, thiếu công cụ thực thi, thì nay, 10 nhóm chính sách đã tạo nên một khung vận hành rõ ràng, từ cơ chế đầu tư, phát triển công nghiệp văn hóa, đến bảo tồn di sản, phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy sáng tạo và chuyển đổi số. Tất cả được đặt trong một cấu trúc khoa học, chặt chẽ, có tính liên kết, tạo điều kiện để các chính sách không tồn tại riêng lẻ, rời rạc mà hỗ trợ nhau trong quá trình triển khai.
Đáng chú ý, Nghị quyết khẳng định quan điểm phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Khi văn hóa được nhìn nhận như một nguồn lực, việc triển khai không đơn thuần chỉ dừng lại ở bảo tồn hay tôn vinh, mà chuyển sang bài toán khai thác, phát huy và đầu tư một cách hiệu quả, tạo ra giá trị cả về kinh tế cũng như xã hội. Trên cơ sở đó, tư duy huy động nguồn lực để phát triển văn hóa cũng có sự chuyển dịch rõ nét.
Bên cạnh vai trò kiến tạo, dẫn dắt của Nhà nước, các nguồn lực xã hội, sự tham gia của cộng đồng và khu vực tư nhân được xác định là động lực quan trọng. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, nhiều lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế sáng tạo đã có bước phát triển mạnh mẽ nhờ sự năng động của khu vực ngoài công lập, góp phần hình thành những sản phẩm văn hóa có sức lan tỏa, thậm chí vươn ra thị trường quốc tế.
Ba khâu đột phá được nhấn mạnh trong Nghị quyết, đó là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy khoa học-công nghệ, chuyển đổi số. Đây là những trụ cột có tính quyết định bởi lẽ, nếu thiếu thể chế thông thoáng, tài năng khó có cơ hội phát huy; nếu thiếu nhân lực, chính sách khó đi vào cuộc sống; và nếu không tận dụng công nghệ, văn hóa sẽ khó theo kịp nhịp phát triển của thời đại số.
Ba khâu đột phá được nhấn mạnh trong Nghị quyết, đó là hoàn thiện thể chế, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và thúc đẩy khoa học-công nghệ, chuyển đổi số. Đây là những trụ cột có tính quyết định bởi lẽ, nếu thiếu thể chế thông thoáng, tài năng khó có cơ hội phát huy; nếu thiếu nhân lực, chính sách khó đi vào cuộc sống; và nếu không tận dụng công nghệ, văn hóa sẽ khó theo kịp nhịp phát triển của thời đại số.
Giáo sư, Tiến sĩ Từ Thị Loan, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa Thăng Long nhận định, nếu nghị quyết của Đảng đặt ra tầm nhìn chiến lược, thì nghị quyết của Quốc hội chính là công cụ pháp lý để hiện thực hóa bằng chính sách, nguồn lực và cơ chế cụ thể. Trong nhiều năm, không ít chủ trương về văn hóa rơi vào tình trạng “đúng nhưng khó làm” vì thiếu hành lang pháp lý rõ ràng, khiến địa phương, đơn vị triển khai lúng túng, e ngại, kết quả đạt được không như kỳ vọng. Nghị quyết lần này, với hệ thống chính sách cụ thể, được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” đó, tạo điều kiện để các ý tưởng, sáng kiến văn hóa đi vào đời sống.
Từ thể chế đến hành động
Nghị quyết chỉ rõ yêu cầu kết hợp hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, theo đó cùng với việc gìn giữ, trao truyền các giá trị truyền thống, còn phải phát huy, làm mới và đưa các giá trị hòa vào đời sống đương đại. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, khi cơ hội lan tỏa văn hóa đi kèm nguy cơ hòa tan, cách tiếp cận này mang ý nghĩa định hướng lâu dài.
Ông Sơn phân tích: “Giá trị lớn nhất của văn bản này là đưa văn hóa từ nhận thức sang thể chế, từ chủ trương sang chính sách, từ kỳ vọng sang điều kiện thực hiện”. Nhận định này chỉ ra một thực tế: văn hóa không thể chỉ dựa vào tâm huyết hay phong trào, vì sẽ dễ rơi vào hình thức, khó bền vững, mà cần có nguồn lực, cơ chế, hạ tầng và môi trường pháp lý phù hợp. Những đòn bẩy cụ thể chính là điều kiện để văn hóa phát triển tương xứng với tiềm năng.
Từ Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị đến nghị quyết của Quốc hội là một hành trình chuyển hóa rõ nét, từ tầm nhìn chiến lược đến công cụ hành động. Ngày 24/11 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Văn hóa Việt Nam”.
Từ Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị đến nghị quyết của Quốc hội là một hành trình chuyển hóa rõ nét, từ tầm nhìn chiến lược đến công cụ hành động. Ngày 24/11 hằng năm chính thức trở thành “Ngày Văn hóa Việt Nam”. Theo bà Loan, hai văn bản tạo thành một chỉnh thể thống nhất, bổ sung cho nhau, tạo động lực cho một giai đoạn phát triển mới.
Các chuyên gia chỉ ra rằng, dù văn hóa là lĩnh vực khó định lượng, song không phải không thể đo lường. Như các chỉ số như mức đóng góp của công nghiệp văn hóa vào GDP, tỷ lệ tham gia hoạt động văn hóa của người dân, hay hiệu quả bảo tồn và phát huy di sản hoàn toàn có thể được lượng hóa, làm căn cứ điều chỉnh chính sách. Đây cũng là xu hướng quản trị hiện đại mà nhiều quốc gia đã áp dụng thành công.
Song song đó, yếu tố con người cần được đặt ở vị trí trung tâm. Nghị quyết đã đề cập đến việc phát hiện, ươm mầm và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, nhưng để hiện thực hóa, cần những chính sách đủ sức hấp dẫn và phù hợp đặc thù sáng tạo. Khi người làm văn hóa được bảo đảm điều kiện sáng tạo và cống hiến, họ sẽ trở thành lực lượng tiên phong đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc ứng dụng công nghệ vào lĩnh vực văn hóa là hướng đi chiến lược. Không gian số mở rộng khả năng tiếp cận, khơi nguồn cho những hình thức sáng tạo và mô hình kinh doanh mới, nếu được khai thác hiệu quả, đây sẽ là xung lực giúp văn hóa Việt Nam bứt phá, nâng cao sức cạnh tranh và lan tỏa giá trị trên trường quốc tế.
Cuối cùng, điều quyết định vẫn nằm ở nhận thức và hành động của toàn xã hội. Văn hóa không thể phát triển nếu chỉ trông chờ vào Nhà nước, mà cần sự chung tay của cộng đồng, doanh nghiệp và từng cá nhân. Khi mỗi người dân đều ý thức được vai trò của mình trong việc gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa, nghị quyết sẽ không còn là những văn bản giấy tờ cứng nhắc mà hòa vào đời sống xã hội, thay đổi tư duy, thúc đẩy hành động, đóng góp vào sự phát triển bền vững của đất nước.