Những lễ hội trang nghiêm và nhiều mầu sắc

Đội kéo lửa thôn Thị Cấm, xã Xuân Phương,
Từ Liêm, Hà Nội, tại lễ hội.
Đội kéo lửa thôn Thị Cấm, xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội, tại lễ hội.

Lễ hội góp phần khẳng định những nền nếp, đạo lý truyền thống qua những nghi lễ trang trọng, những trò diễn xướng vui chơi. Lễ hội chứng minh cho sức sống của một cộng đồng và mang dấu ấn về lịch sử, văn hóa đậm nét. Sự ổn định của đời sống dân tộc, ý thức tôn trọng những giá trị truyền thống và sự tôn kính thế giới tâm linh của nhân dân Việt Nam là yếu tố hàng đầu tạo cơ sở cho sự tồn tại và  phát triển của lễ hội.

Việt Nam là một đất nước có nhiều loại hình lễ hội, như: Lễ hội gắn với sự hình thành dân tộc hoặc một vùng đất (như giỗ Tổ Hùng Vương); Lễ hội ngợi ca anh hùng dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước, giữ nước (Hội Gióng, Hội đền Hai Bà, Hội đền Kiếp Bạc vào ngày 20-8; Lễ hội Ðống Ða, Hội đền An Dương Vương hoặc Hội Cổ Loa); Lễ hội nhớ ơn vị tổ các ngành nghề như đúc đồng, nghề làm trống, nghề dệt vải...; Lễ hội gắn với nghi thức tôn giáo (như  lễ hội Yên Tử, Lễ hội Linh Sơn Thánh Mẫu ở núi Bà Ðen)...

Các lễ hội gắn với tôn giáo có ở khắp các miền của đất nước. Lễ nhà chùa Khmer (Nam Bộ). Các lễ hội thờ Bà chúa Liễu Hạnh với các tước hiệu như Quốc Mẫu, Thánh Mẫu, Vương Mẫu. Dòng tín ngưỡng thờ Mẫu khá nhiều, có tính chất bản địa, nhưng tiêu biểu hơn cả là Mẫu Liễu một nhân vật có tính huyền thoại, một trong các vị liệt thánh được xem là bất tử. Lễ hội gắn với sản xuất, lao động và thu hoạch mùa màng như lễ hội đua thuyền trên huyện đảo Ly Sơn, lễ mừng  lúa mới của người Ra Giai ở Ninh Thuận có phần lễ nghi, lễ cúng thần lúa bắp, hội múa sinh hoạt.

Lễ hội gắn với sinh hoạt vui chơi tinh thần: Lễ hội cồng chiêng của người Tây Nguyên, và cồng chiêng của dân tộc Mường. Các lễ hội mùa Xuân của các dân tộc vùng cao vui chơi gặp gỡ sau những tháng năm lao động vất vả. Ðồng bào Chăm với lễ hội Katê "Khi thấy hoa bằng lăng nở tím sườn đồi là mùa Katê lại đến". Hàng vạn đồng bào Chăm ở Bình Thuận tham dự với kèn, trống, trường ca được biểu diễn qua thức ngâm Ariya do nghệ nhân trình diễn.

Các lễ hội của Việt Nam mang đặc điểm chung về lễ hội của một nước nông nghiệp yêu chuộng cuộc sống thanh bình. Cũng như một số nước trong vùng như Thái-lan với tám mươi phần trăm nông nghiệp, Cam-pu-chia, Lào phần lớn là nông nghiệp nên các lễ hội thường diễn ra vào mùa xuân. Thời tiết tốt và gắn với công việc sản xuất, thu hoạch mùa màng. Các thứ lễ hội xuống đồng nhất là lễ hội ngày mùa, lễ hội cúng cơm mới, được tổ chức khá phổ biến ở nhiều vùng quê.

Ở vùng cao có lễ hội vào mùa của Tây Nguyên vào cuối tháng 3 đầu tháng 4. Lễ hội mang mầu sắc nông nghiệp thường được tổ chức với nhiều nghi thức, có khi mang mầu sắc tín ngưỡng. Cái gốc của mọi sự cầu nguyện cũng là lòng mong mỏi cho cuộc sống tốt đẹp, no ấm.

Thuyết vạn vật hữu linh vốn là tín ngưỡng xa xưa vẫn còn  tồn tại trong đời sống ở nhiều miền cư dân vùng cao. Sông núi, sấm, sét, cây cối, nhà cửa đều được xem là có  linh hồn.

Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, chủ trương của Ðảng và Nhà nước vẫn bảo tồn và tôn vinh những lễ hội thể hiện tinh thần dân tộc và giá trị nhân văn sâu sắc như lễ hội đền Hùng, lễ hội Gióng, lễ hội Kiếp Bạc, lễ hội chùa Hương...

Tuy nhiên, bên cạnh phần bảo tồn cũng cần có sự chọn lựa và gạt bỏ những yếu tố tiêu cực của lễ hội xưa. Một mặt khác là sự xuất hiện của nhiều kiểu lễ hội mới gắn với truyền thống cách mạng, với cuộc sống mới và con người mới ở khắp các miền đất nước.

Đội kéo lửa thôn Thị Cấm, xã Xuân Phương,
Từ Liêm, Hà Nội, tại lễ hội.

Nhiều hình thức lễ hội mới xuất hiện có tính chất nghi lễ kỷ niệm thời điểm ra đời của một vùng đất, liên hoan du lịch văn hóa ở một danh lam thắng cảnh như lễ hội Festival Huế 2002, lễ hội du lịch 350 năm vùng đất Nha Trang (2003), lễ hội du lịch Quảng Nam (3-2003), lễ hội du lịch văn hóa Quảng Ninh (2003) lễ hội tìm về cội nguồn đất Tổ Phú Thọ rồi Thái Nguyên... và có thể của nhiều vùng đất khác.

Lễ hội trong thời kỳ sau cách mạng đã loại bỏ nhiều yếu tố không thích hợp của lễ hội cũ.

Trước hết là những nghi thức tôn giáo mang tính chất thần bí với các trò cầu đảo, lên đồng, trừ ma quái. Không thể để cho các thầy mo, thầy phù thủy biến hội lễ thành nơi hành nghề. Các loại tiết mục kiểu như lên đồng có xiên lềnh, đi chân trần trên lửa than, trèo lên dàn thang có bậc là các lưỡi dao, dần dần bị loại bỏ trong các tiết mục hội hè.

Trong cơ chế kinh tế thị trường, lễ hội dễ rơi vào tình trạng "buôn thần bán thánh". Thường các địa phương có hội lễ dễ buông lỏng việc tổ chức để cho bọn  con buôn tìm mọi cách kiếm tiền. Có hiện tượng xâm phạm đến di tích lịch sử như cụm di tích chùa Hương. Bọn người xấu đã cả gan xây thêm hàng trăm ngôi chùa ở khắp nơi cũng có những tên gọi tương tự như Phật tích, Hương tích, Giải oan,... Các ngôi chùa mới này thu tiền qua hòm công đức và các trò chơi khác. Bộ Văn hóa - Thông tin và UBND tỉnh Hà Tây đã ra lệnh phá và loại trừ hàng trăm ngôi chùa rởm trả lại quang cảnh ban đầu cho chùa Hương.

Việc xây dựng tu bổ thêm các khu nhà trong kiến trúc tổng thể của lễ hội thường được tiến hành nhiều khi tùy tiện theo ý định chủ quan của một số người. Họ xây dựng thêm những cơ sở mới của chùa chiền, đền đài tô điểm thêm các mầu sắc mới, lòe loẹt, phá vỡ khung cảnh chung của các công trình kiến trúc lâu đời và có giá trị kiến trúc bền vững. Ðó là trường hợp kiến trúc ở cụm di tích Lam Kinh Thanh Hóa.

Các lễ hội cổ truyền được khôi phục lại và hành lễ theo đúng nghi thức và tục lệ. Ðó là điều tốt đẹp. Tuy nhiên còn quá ít sự cải tiến cách thức tổ chức lễ hội. Không gian lễ hội vẫn thu hẹp trong khu vực chùa chiền, đền đài có cắm cờ, dựng rạp có bãi đất tổ chức thi đấu cờ người, đấu vật, kéo co. Nếu chùa chiền, đền đài gần sông nước thì có tổ chức đua thuyền, đua ghe... Tùy theo phong tục tập quán của địa phương mà những trò vui trong lễ hội có thể có nhiều hình thức sinh hoạt khác nhau.

Ðiều đáng nói trước tiên là cần tránh việc biến lễ hội thành nơi kiếm tiền, sinh lợi qua những chuyện không đẹp mắt. Vấn đề cơ bản là phải cho lễ hội có được một không gian văn hóa, một nội dung văn hóa trong việc tiến hành nghi lễ cũng như vui chơi, phải có một trình độ văn hóa thể hiện ở tri thức giao lưu, sinh hoạt, từ cách ăn mặc đến sự giao tiếp, gặp gỡ ở lễ hội. Tình hình khôi phục các lễ hội từ trung ương đến các địa phương đang diễn ra phổ biến đã tạo được không khí văn hóa truyền thống trang nghiêm và hội hè vui vẻ.

Tuy nhiên, một điều cần tránh là sự lãng phí tiền của diễn ra ở các lễ hội hiện nay. Quần áo nghi lễ các loại, rồi hương khói, vàng mã, đã tiêu phí một số tiền không nhỏ. Theo thống kê hằng năm trong cả nước đã đốt cháy khoảng 350 tỷ tiền vàng mã. Ở thành phố Hà Nội  trước đây chỉ bán vàng mã ở phố Hàng Mã, nhưng nay dường như ở nơi nào có đền chùa đều có nhiều nơi bán vàng mã. Ðồ vàng mã còn làm mô phỏng theo thị hiếu và sinh hoạt của người dân thành phố như ti-vi, tủ lạnh, xe máy, ô-tô con... Ðã đến lúc phải ngăn chặn tình trạng lãng phí xa xỉ với đầu óc mê tín dị đoan có xu hướng phát triển.

Mặc dù còn những hạn chế, nhưng việc duy trì và tôn vinh các lễ hội tiêu biểu của dân tộc là trách nhiệm của ngành văn hóa và của mọi người. Lễ hội thể hiện trình độ văn hóa, tinh thần yêu quê hương, đất nước và ý thức gắn kết của cộng đồng, trong tiến trình phát triển của dân tộc.

Có thể bạn quan tâm