Tuyển sinh đại học và cao đẳng theo phương thức ba chung:

Những điều bất cập

Tại một điểm thi đại học.
Tại một điểm thi đại học.

Từ thực tế qua các kỳ tuyển sinh

Ba điều bất cập của công tác xét tuyển đại học, cao đẳng

Với luật chơi "lội dòng nước ngược", quy định nguyện vọng 2 (NV2) phải hơn nguyện vọng 1 (NV1) từ hai đến ba điểm, công tác xét tuyển ÐH, CÐ của chủ trương ba chung đã bộc lộ ba điều bất cập:

1- Ở những trường ÐH thuộc diện "top ten" với nguyên tắc lấy điểm từ trên cao xuống thấp, hầu hết các trường đều đã tuyển đủ chỉ tiêu số thí sinh có NV1. Do đó, số thí sinh trượt NV1 nhưng điểm thi vẫn vào loại cao có nguyện vọng đăng ký vào các trường này theo NV2 để xét tuyển, đã không có cơ hội thực hiện quyền được xét tuyển theo hai nguyện vọng như quy định của bộ.

2- Do đề thi, nhất là ở một số môn thi khối A, phân hóa không tốt lắm, số thí sinh điểm cao rất nhiều, dẫn đến tình trạng ở một số trường ÐH, thí sinh có tổng điểm 27 (ba môn thi, mỗi môn đạt chín điểm) vẫn có thể trượt.

3- Ngược lại ở một số trường đại học khác, điểm chuẩn thấp, thí sinh đạt 18 - 20 điểm đã có thể đỗ ÐH. Cách xét tuyển như hiện nay đã cho thấy, học sinh khá, giỏi vẫn có thể trượt ÐH, học sinh trung bình vẫn có thể đỗ. Với chức năng quản lý về đào tạo, phương thức tuyển sinh của ngành giáo dục và đào tạo phải làm sao tuyển được hết những học sinh thật sự có năng lực. Ngành giáo dục và đào tạo cố gắng không đánh đố thí sinh trong cách ra đề thi, nhưng với luật chơi "lội dòng nước ngược", lại dường như "đánh đố" thí sinh trong cách xét tuyển, tạo ra sự bất công lẽ ra không nên có.

                   KỲ DUYÊN

Căn cứ vào số lượng sinh viên cần tuyển, số thí sinh dự thi và kết quả thi cụ thể người ta xác định điểm trung bình tối thiểu, được gọi là điểm sàn, các thí sinh có điểm dưới điểm này là trượt và bị loại khỏi quá trình xét tuyển theo nguyện vọng (NV) tiếp theo.

Kể từ năm 2002 đến nay, việc xử lý kết quả chung trong hai năm đầu không tìm được điểm sàn, hai kỳ tuyển sinh gần đây có điểm sàn.  Từ số liệu Bộ Giáo dục và Ðào tạo công bố, rút ra một số thông tin sau:

Năm 2002-2003, chưa tìm được điểm sàn kịp thời (con số 13 điểm, và có được sau khi xét tuyển), cho nên việc xét tuyển "tù mù" và điểm tuyển thấp nhất là  6 (trung bình 2 điểm/môn) đã đỗ. Sử dụng điểm sàn làm căn cứ đánh giá, khoảng 296.115 thí sinh đáng lý trượt thật (dưới điểm sàn 13) nhưng đã có cơ may thành đỗ thật; và đại bộ phận 347.484 thí sinh lẽ ra đỗ thật (trên điểm sàn 13) nhưng rất tiếc lại bị trượt oan.

Năm học 2003-2004, việc xét tuyển "như trên" lại tái diễn. Ðiểm tuyển thấp nhất là 4 điểm. Số lượng thí sinh được gọi nằm ngoài tầm kiểm soát do xuất hiện "hồ sơ ảo rất lạ",  có trường phải gọi với số lượng lớn đến 200%, 300%, 400% thậm chí đến 500% so với số lượng được phép tuyển, để dự phòng.

"Hồ sơ ảo rất lạ" này xuất hiện do việc xét tuyển  (NV2+NV3) đồng thời. Với 108 trường ÐH và CÐ, có ý kiến cho rằng, chỉ cần 216 lần trao đổi đĩa mềm giữa các trường, song thực tế qua phép tính theo kiến thức toán tổ hợp phổ thông đơn giản, con số này hàng vạn lần nhiều hơn.

Năm 2004-2005, điểm 14-15 được coi là điểm sàn, song lại thiếu căn cứ khoa học, cho nên tình hình xử lý kết quả chung vẫn còn rắc rối hơn do xuất hiện số báo điểm giả (con số được công bố là 90, nhưng có lẽ còn xa với thực tế ở nhiều nơi (!)).

Năm nay "điểm sàn cao-su" lại được dự kiến trước khi thi, là một kiểu tư duy ngược. Số thí sinh  nằm giữa điểm tuyển NV1 và điểm sàn là 152.282 TS, cho khoảng 80.000 chỉ tiêu NV2 và NV3. Tỷ lệ xét tuyển trung bình NV2 và NV3 xấp xỉ 1/2, còn tại Hà Nội tỷ lệ này là 1/10. 

Sự  thiếu ổn định trong xét tuyển NV2 và NV3 lại tái diễn và đạt 27 điểm cho ba môn vẫn trượt, 15 điểm vẫn đỗ là điều ai cũng hình dung được.

Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên?

Ðể làm rõ bản chất thi theo phương án "ba chung", ta phải nhìn rộng ra. Ðây là vấn đề khoa học, nó có quy trình riêng, việc thực hiện phải thật nghiêm túc và  chặt chẽ.

Kỳ thi "ba chung" đã được sử dụng ở nước ta ở những năm 70 và 80 của thế kỷ trước, và một số nước châu Á, thí dụ Trung Quốc, Nhật Bản. Ðể bảo đảm nghiêm túc và công bằng là hai mục tiêu cao nhất của kỳ thi, điểm cao phải đỗ, và có kết hợp  nguyện vọng của thí sinh.

Việc xác định trình độ chuẩn quốc gia qua đợt thi đề chung, cùng với "công nghệ" tính toán "điểm sàn" nhanh chóng. Sau đó, các trường đồng loạt và chủ động tuyển chọn theo từng khối. Sự điều tiết giữa các trường trong số vài phần trăm (khoảng 5%), khi tính toán điểm sàn chung. Thời gian xét tuyển nhanh, khoảng nửa tháng.

Phương án này ở nước ta và các nước kể trên có chung một bản chất khoa học. Sự khác nhau khi tổ chức thi "ba chung" hiện nay với  phương án ở trên ở hai điểm chủ yếu: thứ nhất là việc bán hồ sơ đăng ký dự thi; thứ hai "công nghệ" tính toán điểm sàn cũng được nghiên cứu, song tìm mãi vẫn chưa tìm  ra. Phải chăng sự khác biệt này gây ra sự rắc rối cho xã hội do "hồ sơ ảo" và mất công bằng trong thi cử?

Ðiều không hề có trong phương án ba chung

Thi vào đại học và cao đẳng là kỳ thi quốc gia, việc lựa chọn  này ở nước ta được xem là phép nước. Tính chất thi cử trong những năm đổi mới đã thay đổi ít người để ý, song lại rất cơ bản vì nó được "dịch vụ hóa" - "dịch vụ theo nhu cầu" và được trả công dưới dạng "lệ phí", chứ không hẳn còn là trách nhiệm của cơ quan chức năng. Khi "đồng tiền" len lỏi vào phép nước thì biến hóa khôn lường. Việc đặt các loại NV1, NV2, NV3  và  thí sinh có thể nộp hai, ba hay nhiều hồ sơ khi "mua hồ sơ đăng ký", rồi nguyện vọng nào xét trước, nguyện vọng nào xét sau, hay xét đồng thời - là sự   "sáng tạo mới" của bộ phận có trách nhiệm, xin khẳng định không hề có trong "ba chung".

                   VƯƠNG HẢI NAM

Số lượng hồ sơ đăng ký dự thi năm nào cũng bán ra lớn hơn nhiều số lượng thí sinh, khoảng 1,5 đến 1,7 lần, và tương ứng với "hồ sơ ảo" từ 1,5 đến 1,7 lần, chưa kể kinh phí thu được từ phần "ăn theo" này khá ổn định, đợt thi nào cũng  đều xấp xỉ 20 tỷ đồng/kỳ.

Chi phí chênh lệch này, phải chăng là nguyên nhân sâu xa gây ra "ảo tràn lan" ở mọi khâu trong kỳ thi quốc gia và rắc rối cho xét tuyển và tiêu cực.

Chưa bàn đến giữa "20 tỷ đồng lợi ích tập thể và 500 tỷ đồng là lợi ích quốc gia", trong thực tế con số nào lớn hơn, thiếu sót này đã được cảnh báo liên tục, song rất tiếc vẫn chưa được nghiên cứu và khắc phục.

"Công nghệ" xử lý kết quả chung về hình thức có thể khác nhau, song có cùng một cơ sở khoa học. Sự khác nhau ở đây nếu có là chênh lệch chất lượng học sinh phổ thông từ bắc vào nam khoảng 4 điểm, và một số chế độ chính sách ưu tiên.

Vấn đề này dựa vào kinh nghiệm trước đây, thực tiễn chưa thành công của ba năm trước, và kỹ thuật hiện đại, dễ dàng "thực nghiệm" mọi phương án chỉ đạo khoa học, và công bố công khai cho toàn dân biết trước phương án lựa chọn nào là tối ưu trong vòng nửa tháng trước kỳ thi.

"Công nghệ" xử lý kết quả chung, rất tiếc  chưa bao giờ được đặt ra nghiêm túc để nghiên cứu.

Năm nay chưa thi mà điểm sàn đã được công bố trước, đây là vấn đề cần được xem xét nghiêm túc. Vấn đề này đáng lẽ phải tập trung trí tuệ quốc gia để giải quyết, song thay vào đó chúng ta lại tăng cường các lần thỉnh thị các cấp, tổ chức nhiều cuộc họp tốn kém, liên tục tổ chức giao lưu trực tuyến trên các phương tiện thông tin công cộng, làm nhiễu loạn thông tin trong xã hội và gây hoang mang cho thí sinh.

Quy chế tuyển sinh cũng thay đổi triền miên, riêng năm 2004 đã phải chỉnh sửa tới gần 30 điều, còn năm nay có nhiều hồ sơ nhầm lẫn giữa hai mục 2 và 16. Rõ ràng, nhiều tiền, đông người, họp hành cũng cần, song xin khẳng định, không thay được tư duy khoa học.

Giải pháp nào cho vấn đề tuyển sinh?

Khoảng cách mỏng manh giữa đỗ và trượt

"Tôi là một thí sinh rớt lại sau hai mùa tuyển sinh. Hai năm qua, biết bao kỳ vọng của cha mẹ tôi vẫn quyết tâm thi vào ÐH Sư phạm toán vì đó là ước vọng lớn nhất của mẹ tôi, gia đình tôi và cả chính tôi nữa... Năm nay tôi được 25 điểm và là người thứ 77 trong khi chỉ tiêu của trường là 100 SV. Thế nhưng giữa cái đậu và cái rớt sao mà mỏng manh thế. Từ khi biết điểm chuẩn của ngành sư phạm toán là 25,5 tôi thật sự bị sốc. Chỉ cần 0,5 điểm nữa thôi! Nhưng điều làm tôi không hiểu là nếu lấy 25,5 điểm thì chỉ có 64 SV đỗ, chưa đủ 70% chỉ tiêu. Ðây là sự thật, dù chỉ tiêu của trường là 100 SV, nhưng thực chất ra chỉ lấy khoảng 70%, tôi thật sự đau đớn khi 30% kia trong đó có tôi là chỉ tiêu ảo của trường. Tại sao ngay từ đầu trường không đề chỉ tiêu 70 SV để tôi lượng sức mình mà thi vào?...

THÁI TRẦN PHƯƠNG THẢO
(9/5 Cư xá Triệu Ðà, P.14, Q.10 – TP Hồ Chí Minh)

Chương trình, sách giáo khoa và cách đánh giá kết quả (bao gồm cả kỳ thi tốt nghiệp và thi vào ÐH và CÐ) là một thể thống nhất hữu cơ. Việc tiếp cận thiếu khoa học và đồng bộ, sinh ra nhiều bất ổn và tiêu cực cho dạy và học, thi cử  trong suốt hai mươi năm đổi mới.

Có nhiều ý kiến góp ý cải cách mạnh mẽ kỳ thi ÐH và CÐ trên công luận, như sử dụng kỹ thuật hiện đại để thi trắc nghiệm vào năm 2006, hay gộp hai kỳ thi tốt nghiệp và ÐH và CÐ làm một, hay bỏ thi ÐH và CÐ giữ thi tốt nghiệp, hay mở rộng cửa vào ÐH và CÐ để tránh  cửa hẹp  "cổ chai", v.v.

Các ý kiến đó đều hay, song trên cơ sở tư liệu quốc tế và thực tiễn Việt Nam, cũng xin lưu ý, CHLB Nga thí điểm trắc nghiệm mười năm nay, Duma vẫn chưa được phép đưa vào, còn ở ta "trắc nghiệm" đang từng bước đưa  vào bậc học phổ thông. Không rõ một việc hệ trọng này ai quyết định? Trắc nghiệm có nhiều ưu điểm ở môn học nào đó, song ngay cả nước Mỹ cũng không coi là toàn năng cho tất cả các môn học do còn nhiều hạn chế.

Việc gộp hai kỳ thi tốt nghiệp và CÐ và ÐH, Nhật Bản có bài học kinh nghiệm, giữ kỳ thi ÐH và dùng hình thức nhẹ nhàng để bỏ dần các kỳ thi tốt nghiệp các cấp ở bậc học phổ thông, theo một lộ trình nhất định, mà không ít nước đang nghiên cứu đi theo xu thế này.

Việc dự kiến thi "toán, văn và ngoại ngữ"  không phân biệt các khối A, B, C, D và một số môn bổ sung do tùy trường lựa chọn cụ thể. Kế hoạch phân ban ở bậc phổ thông và dự kiến phương án thi như vậy liệu có ở thế phủ quyết lẫn nhau?

Việc mở rộng cửa các trường ÐH và CР để "thầy nhiều hơn thợ", tỷ lệ đại học/trung học chuyên nghiệp/công nhân kỹ thuật gần đây là 1/1,6/0,92 thay vì đáng lẽ phải 1/4/10, đang làm mất cân đối nghiêm trọng cơ cấu nguồn nhân lực.

Các nhà kinh tế thế giới cảnh báo rằng, các nền kinh tế có cơ cấu  nguồn nhân lực bất hợp lý và chất lượng thấp đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh toàn cầu.

Giáo dục là lĩnh vực liên quan con người, sự thay đổi kỳ thi trong tình hình mới là cần thiết, song nó đòi hỏi phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, chứ không phải là sao chép máy móc mang về áp đặt vào nước ta.

Mọi chủ trương chính sách đều phải xuất phát từ cuộc sống, thực tiễn kinh tế - xã hội nước ta, thành tựu học thuật quốc tế và trở lại phục vụ cuộc sống của người dân.

Chủ trương "ba chung" với các mục tiêu đưa ra trong đợt cải cách thi cử vào ÐH và CÐ vừa qua là hoàn toàn đúng đắn và hợp lòng dân. Vấn đề ở đây không phải là "ba chung" mà là vấn đề  tổ chức sao cho ngang tầm  với thực tiễn công việc đặt ra.

Có thể bạn quan tâm