Những cuộc đọ sức lớn ở miền Nam

Đầu năm 1965, tôi vào tới chiến trường B2 (Nam Bộ) giữa lúc Bộ Tư lệnh Miền và các cơ quan đang bị cuốn hút theo bước phát triển mới sau chiến thắng vang dội Bình Giã.

Vừa đặt chiếc “ba lô con cóc” xuống, ngay hôm sau tôi được dự cuộc họp mở rộng của Bộ Tư lệnh Miền với các đồng chí phụ trách các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và một số cán bộ trung, cao cấp từ A (miền Bắc) vừa được bổ sung về.

Sắp Tết rồi, đi tới đâu cũng gặp mai vàng nở rộ. Tôi thật không ngờ rừng Nam Bộ lại bằng phẳng, đẹp như vậy và càng lạ mắt khi tới hội trường đồng thời là Sở chỉ huy của Bộ Tư lệnh Miền. Đó là một ngôi nhà lớn làm bằng cây rừng, mái cũng lợp bằng một loại lá rừng rất dày, đốt không cháy, chống được bom napalm được bộ đội đặt tên là “lá trung quân”. Bàn ghế cũng toàn bằng những thân cây ghép lại. Bốn chung quanh không có vách, rất thoáng đãng với những tấm bản đồ chiến sự cỡ lớn treo trên dây. Ngoài ra là hàng dẫy những chiếc điện thoại màu đen nằm trên những cái giá cũng bằng thân cây đặt ở một góc hội trường.

Đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh với cái tên mới là anh Sáu Di chủ trì cuộc họp. Đồng chí nêu ra hai vấn đề lớn để mọi người góp ý kiến với Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền: Một là: Chủ lực ta đã thắng ngụy keo đầu, vậy làm cách nào chồm lên đánh qụy hẳn quân chủ lực ngụy. Hai là, quân xâm lược Mỹ đã vào, ta làm cách nào nắm vững quyền chủ động trên chiến trường để đánh thắng cả ngụy, đánh thắng cả Mỹ. Đồng chí vui vẻ nói thêm: Đó là những vấn đề rất mới, rất khó! Nhưng dù khó mấy, chúng ta cũng phải tìm cách làm bằng được!... Câu nói đúng lúc khích lệ ý chí quyết tâm của mọi người. Tư lệnh Trần Văn Trà, tên thường gọi là anh Tư Chi, khơi mào tiếp: “Đúng là ta mới thắng ngụy keo đầu, nói cụ thể hơn là ta mới diệt được chiến đoàn ngụy (đơn vị chiến thuật của ngụy cỡ tiểu đoàn) ngoài công sự. Nay phải thừa thắng xông lên, phải làm thay đổi hẳn cục diện chiến trường có lợi cho ta. Vì vậy tôi đề nghị ta không chủ quan, phải chuẩn bị kỹ, mạnh dạn tập trung lực lượng diệt cho được tiểu đoàn ngụy trong công sự vững chắc thì quân ngụy sẽ mất hết chỗ dựa về chiến thuật. Các đồn, bót khác của ngụy trên toàn chiến trường rung động hết. Ta càng có điều kiện thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích đánh phá bình định mở mảng, mở vùng, mở rộng vùng giải phóng. Tới lúc đó Mỹ vào tới đây ta càng rảnh tay đọ sức với Mỹ.”

Những ý kiến khêu gợi của đồng chí Nguyễn Chí Thanh và đồng chí Trần Văn Trà như một luồng gió khua động cả khu rừng. Cuộc thảo luận bùng nổ tức thì. Nhiều người tán thành mở ngay chiến dịch. Nhưng có một số ý kiến lại bác bỏ thẳng thừng, cho rằng chủ lực ta còn mỏng, sử dụng phải thận trọng. Lúc này dùng chủ lực đánh vào công sự vững chắc là phiêu lưu, khéo mất cả chì lẫn chài! Lại có ý kiến muốn chủ lực của Miền phải tập trung vào tập luyện, chuẩn bị đương đầu với Mỹ vì đối tượng tác chiến chính của ta là Mỹ rồi. Lời qua tiếng lại rất rôm rả, đôi lúc còn bốp chát, gay gắt. Bộ Tư lệnh phải dừng lại hội ý. Lúc sau họp lại tất cả đều nhất trí với kết luận của đồng chí Nguyễn Chí Thanh là phải mở chiến dịch tiếp tục giáng cho quân ngụy những đòn đau hơn, kinh hoàng hơn chiến dịch Bình Giã làm cho chúng đã khốn đốn càng thêm khốn đốn.

Sau một hồi bàn cãi tiếp về phương án chiến dịch cụ thể, mọi người nhất trí với Bộ Tư lệnh Miền trình với Quân ủy Trung ương và Trung ương Cục cho mở chiến dịch Đồng Xoài là đúng với ý chí và ý nguyện của mọi người. Đồng Xoài là một chi khu quân sự của ngụy thuộc tỉnh Phước Long, là một cứ điểm trọng yếu trong hệ thống phòng thủ từ xa của ngụy ở phía bắc Sài Gòn, nằm trên trục đường 14, chạy thẳng tới Tây Nguyên thông ra hậu phương lớn. Địch bố trí ở chi khu quân sự Đồng Xoài một lực lượng rất mạnh.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhấn mạnh thêm: Đây là chiến dịch lớn đầu tiên của bộ đội chủ lực ta chọi nhau với chủ lực của ngụy. Đây cũng vừa là một trận công kiên lớn đầu tiên ta đánh địch trong công sự vững chắc (cỡ Tiểu đoàn tăng cường) vừa bố trí diệt viện của địch trên đường 14. Đánh thắng chiến dịch này là ta bắn một mũi tên trúng hai đích: vừa là diệt ngụy, vừa là dằn mặt quân viễn chinh Mỹ. Vì vậy ta phải tập trung cao độ về lãnh đạo, chỉ đạo, về vật chất, tinh thần tư tưởng quyết tâm đánh thắng giòn giã chiến dịch này.

Còn vấn đề thứ hai chuẩn bị đánh Mỹ, thắng Mỹ thế nào? Mọi người cũng nhất trí với đồng chí Nguyễn Chí Thanh là, Bộ Tư lệnh Miền và các cơ quan cần chuẩn bị kỹ thêm, sẽ thảo luận sâu sắc và cụ thể vào một buổi khác. Bây giờ hãy lo cho chiến dịch này đã! Ngay sau đó, một ban chỉ huy chiến dịch được thành lập gồm các vị tướng giỏi đánh công kiên thời chống Pháp: Đồng chí Lê Trọng Tấn (Ba Long) Tư lệnh phó Miền làm chỉ huy trưởng chiến dịch; đồng chí Hoàng Cầm (Năm Thạch) chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch; đồng chí Nguyễn Minh Châu (Năm Ngà), Tư lệnh khu 6, chỉ huy phó chiến dịch; đồng chí Lê Văn Tưởng (Hai Chân) Chủ nhiệm Chính trị chiến dịch. Tôi được đồng chí Nguyễn Chí Thanh phân công theo dõi sát quá trình diễn biến của chiến dịch.

Theo đúng kế hoạch, đêm 10 rạng ngày 11-5-1965 chiến dịch Sông Bé-Phước Long mở màn (sau gọi là chiến dịch Đồng Xoài) để bảo đảm chắc thắng, chiến dịch chia làm hai đợt. Đợt 1, Ban chỉ huy chiến dịch dùng Trung đoàn 2 của Miền tấn công chi khu quân sự Phước Bình ở nam thị xã, nhằm ngay từ đầu cô lập địch trong thị xã Phước Long. Do được chuẩn bị kỹ nên trận đánh diễn ra nhanh, gọn, tiêu diệt và làm chủ chi khu, diệt và bắt sống hơn 100 địch. Đợt 2 bắt đầu từ 9-6-1965 với trận đánh then chốt là tiêu diệt và chiếm giữ cứ điểm Đồng Xoài. Cứ điểm Đồng Xoài được ngụy xây dựng rất kiên cố, vững chắc và do một lực lượng mạnh đóng giữ mà dân địa phương gọi là bọn “râu kẽm” dữ dằn lắm, lại có thêm hai chi đội cơ giới, hai khẩu pháo 105mm yểm trợ.

Trận đánh diễn ra ác liệt hơn nhiều trận Phước Bình kéo dài suốt từ đêm qua ngày mãi chiều 10-6-1965 mới tiêu diệt hoàn toàn quân địch trong công sự. Ngày hôm sau, địch đổ quân viện cách Đồng Xoài 3km. Trung đoàn 1 Quân giải phóng phục sẵn, diệt gọn tiểu đoàn 1, trung đoàn 7 ngụy, bắt sống 87 tên trong đó 14 tên cố vấn quân sự Mỹ. Chiến dịch kết thúc thắng lợi, vượt yêu cầu vì bắt được cả tù binh Mỹ. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh nhận định: Trong chiến dịch Đồng Xoài chủ lực Quân Giải phóng đã có bước trưởng thành về đánh công kiên, đã tiêu diệt tiểu đoàn ngụy trong công sự vững chắc, đã bắt sống hàng trăm tù binh trong đó có cả tù binh Mỹ, mở ra khả năng mới là chủ lực ta có thể tiêu diệt được bất cứ chi khu nào khác ở chiến trường Nam Bộ, đánh dấu sự sụp đổ của chiến lược chiến tranh đặc biệt của Mỹ ở miền Nam.

Chiến dịch Đồng Xoài vừa chấm dứt, mọi người chưa kịp xả hơi đã phải tập trung ngay vào việc đối phó với quân Mỹ ùn ùn đổ vào miền Nam. Các đồng chí Bộ Tư lệnh bận làm việc tối ngày với các cơ quan và đơn vị chiến đấu. Ngoài ra đồng chí Nguyễn Chí Thanh, đồng chí Trần Văn Trà, đồng chí Phó Tư lệnh Nguyễn Thị Định cùng một số cán bộ chia nhau xuống tận đơn vị cơ sở và địa phương. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã dành nhiều thời gian trò chuyện cởi mở với cán bộ và chiến sĩ ở nhiều đơn vị chủ lực, nghe anh em nói đánh Mỹ khác với đánh ngụy thế nào? Đồng chí Trần Văn Trà xuống sát vùng ven đô, gần những vùng đóng quân của Mỹ tìm hiểu kỹ những cuộc hành quân của địch và kinh nghiệm đối phó của địa phương. Đồng chí Nguyễn Thị Định đi bàn với Tây Ninh, với đặc khu Sài Gòn về chuẩn bị lực lượng các đoàn thể tiến hành đấu tranh chính trị trực tiếp của quần chúng với quân đội Mỹ.

Qua những cuộc tiếp xúc sâu sát của các đồng chí lãnh đạo ở các đơn vị cơ sở và địa phương đều thấy nổi lên một số băn khoăn, thắc mắc mới: cấp ủy và nhân dân lo là ta đã thắng ngụy rồi, vậy có thắng được Mỹ không? Ta với Mỹ ngôn ngữ bất đồng, vậy đấu tranh chính trị với Mỹ thế nào? Cán bộ và chiến sĩ đều hỏi ta đánh bằng cách nào để thắng Mỹ? Đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn nhắc mọi người, những thắc mắc đó là tất nhiên. Lúc này không có thắc mắc gì mới lạ, nhưng không thể đợi giải quyết xong hết thắc mắc mới đánh. Phải khẩn trương lên, phải chuẩn bị kỹ về mọi mặt, phải “vừa chạy, vừa xếp hàng” mới kịp đối phó với những cuộc hành quân lớn của Mỹ. Và ngay trong thời gian ta đang mở chiến dịch Đồng Xoài, Bộ Tư lệnh Miền đã nhận được tin mật là đại sứ Mỹ ở Sài Gòn Cabot Lodge đã hộc tốc bay về Mỹ cấp báo tình hình nghiêm trọng ở miền Nam và xin viện trợ đột xuất.

Cùng lúc đó, Tướng Westmoreland, tổng chỉ huy quân đội Mỹ ở miền Nam cũng lớn tiếng đòi tăng quân để tăng sức mạnh quân sự của Mỹ ở miền Nam. Lúc này ở Mỹ, nội bộ giới cầm quyền chia làm hai phái: phái diều hâu và phái bồ câu! Phái diều hâu gồm những tướng lĩnh, những chính khách Mỹ bảo thủ hiếu chiến, tiêu biểu là Westmoreland. Tướng Westmoreland và Tổng thống Johnson là cùng một duộc nên chỉ sau chiến dịch Bình Giã kết thúc 1 ngày, ngày 9-3-1965 Johnson quyết định điều hai tiểu đoàn Thủy quân lục chiến từ Okinawa (Nhật) vội vã đổ lên Đà Nẵng. Tiếp đó, tới ngày 1-4-1965, Johnson họp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định 9 điểm trong đó chấp nhận đề nghị của Tướng Westmoreland tăng lực lượng chiến đấu của Mỹ vào miền Nam, tạo điều kiện cho Westmoreland dùng sức mạnh quân sự đánh bại quân Giải phóng miền Nam trong một thời gian ngắn.

Vì vậy đồng chí Nguyễn Chí Thanh thường nhắc chúng tôi phải theo dõi sát mọi động thái quân sự của Mỹ ở nước Mỹ và ở chiến trường để Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền có chủ trương và biện pháp đối phó kịp thời. Trong việc này, cơ sở mật của ta nằm tận cơ quan chóp bu ngụy quyền Sài Gòn đã phục vụ rất kịp thời và có hiệu quả. Toàn bộ kế hoạch chiến lược của Mỹ ở miền Nam Việt Nam do Tướng Westmoreland vạch ra, Bộ Tư lệnh Miền đã nắm được. Trong đó Tướng Westmoreland đã vạch ra kế hoạch ba giai đoạn để mưu tìm chiến thắng. Mỗi giai đoạn đặt rõ trọng tâm trọng điểm:

Giai đoạn 1 là từ giữa đến cuối năm 1965, Mỹ đặt trọng tâm vào việc triển khai quân và chuẩn bị kế hoạch phản công quân sự trên các hướng, trọng điểm là miền Đông Nam Bộ và Khu 5.

Giai đoạn 2: Vào mùa khô 1966-1967, Mỹ sẽ mở các cuộc phản công quân sự để giành lại quyền chủ động đã bị mất về tay Việt Cộng, đồng thời tiến hành bình định.

Giai đoạn 3: Từ giữa đến cuối năm 1967, quân Mỹ hoàn thành việc tiêu diệt quân giải phóng và căn cứ kháng chiến của ta, Mỹ bắt đầu rút quân giao cho ngụy truy quét nốt Việt Cộng và bình định.

Kế hoạch của Tướng Westmoreland được phe hiếu chiến cho là hoàn hảo và khen hết lời. Vì không có ai trong bọn họ dám cả quyết với vài ba cuộc phản công lớn trong hai năm mà trọng điểm là cuộc phản công mùa khô 1966-1967, Mỹ sẽ giải quyết xong cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam.

Được tin này, Bộ Tư lệnh Miền điện báo cáo ngay với Trung ương Cục và Quân ủy Trung ương và xin mở hội nghị quân ủy Miền mở rộng để ra nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn chiến lược mới.

Để bảo đảm bí mật căn cứ của Miền, Bộ Tư lệnh chỉ đạo mở hội nghị ở rẫy sản xuất của các cơ quan tại một vùng giáp biên giới Cam-pu-chia. Ở đây có cả ruộng, rẫy của dân, rải rác ở ven rừng. Các đại biểu được giao liên đưa đến vào ban đêm, sáng ra là đã vào gọn cả trong rừng. Chỗ họp là một căn nhà nhỏ để anh chị em các cơ quan đến phiên ra làm rẫy có chỗ ăn nghỉ. Hội nghị hoàn toàn không dùng bàn ghế mà ngồi võng. Mỗi người một võng. Trong nhà và những cây rừng xung quanh nhà không thiếu chỗ mắc võng. Chỉ cần hai cái cọc là xong. Các đại biểu họp ở võng, ngủ luôn ở võng rất thuận tiện, chẳng phải giường, chiếu thêm lỉnh kỉnh. Đây cũng là cái nếp sinh hoạt trong thời chiến ở rừng miền Nam. Ai đi chiến đấu, đi công tác, đi đâu cũng đều có cái võng bên mình. Các đại biểu nói vui là tổng thống Mỹ thì họp Hội đồng an ninh quốc gia ở bang “Texas” để bàn chiến lược xâm lược miền Nam, còn cụ Sáu Di (đồng chí Nguyễn Chí Thanh) thì mở hội nghị quân sự cấp cao toàn Miền ở “bang rẫy” bằng võng để quyết đập tan xác quân xâm lược Mỹ.

Trong hội nghị, những vấn đề nóng bỏng về địch, về ta đều được Bộ Tư lệnh nêu rõ để đi tới thống nhất một ý chí đánh Mỹ. Cuộc bàn cãi về địch lần này sôi động ngay từ đầu xoay quanh vấn đề: “Ta đánh Mỹ khác đánh ngụy thế nào, và đánh bằng cách nào để thắng Mỹ?”.

Những cánh võng vội dựng dậy vì các đại biểu đều nhấp nhổm muốn nói. Cái khác của Mỹ thì dễ nhận thấy, ai cũng nói được. Còn một vấn đề rất mới và rất lớn mà cả cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đều thắc mắc là: “Ta đánh bằng cách nào để thắng được Mỹ” thì nhiều đại biểu còn ngắc ngứ, có ý chờ “bí quyết” của trên! Tuy nhiên, trong đánh giá về địch nảy ra ý kiến khác nhau về đánh giá bộ binh Mỹ. Một số đồng chí chỉ huy chưa chạm trán với Mỹ thì phản ảnh chiến sĩ ta có hai điều thắc mắc: một là Mỹ lắm bom nhiều đạn, hai là ớn lính Mỹ “to con” hơn, chiến sĩ ta khó hạ gục nó khi đánh giáp lá cà. Thắc mắc này được các đồng chí đã đọ súng trực tiếp với quân viễn chinh Mỹ cung cấp nhiều kinh nghiệm sốt dẻo. Các đại biểu này khẳng định lính Mỹ chỉ to xác thế thôi, nhưng khi đụng trận với ta, nặng nề chúi đầu trong công sự bắn bừa bãi và kêu cứu ỏm tỏi, không có yểm trợ của phi pháo là tháo chạy nhanh lắm!

Còn một kinh nghiệm nóng hổi nữa cũng được hội nghị rất chú ý, là khi ta đã đụng quân Mỹ rồi thì phải sáp ngay vô mà đánh quyết liệt, đánh giáp lá cà với nó là chắc ăn. Chớ để có khoảng phân cách giữa Mỹ và mình thì chỉ tổ xơi bom đạn của nó! Vì vậy chỉ cần trên cho thêm lực lượng, cho thêm súng bén thì bộ đội ta bảo đảm đánh thắng bộ binh Mỹ!

Trước khi thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ quân sự trong giai đoạn chiến lược mới, đồng chí Nguyễn Chí Thanh thay mặt Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền tóm tắt và kết luận hội nghị. Đồng chí hoan nghênh những đóng góp tích cực của các đại biểu, nhờ trí tuệ tập thể đã giải quyết được nhiều vấn đề. Nhưng còn một vấn đề chúng ta còn mắc nợ cán bộ, chiến sĩ và nhân dân về thắc mắc “Ta đánh bằng cách nào để thắng được Mỹ” thì chúng ta còn “cà lăm” (1) chưa trả lời được rành mạch, dứt khoát, tuy đã có một số kinh nghiệm đánh Mỹ sốt dẻo ban đầu rất đáng quí. Rồi đồng chí nói to hơn “muốn đánh cách gì thì cách, tôi đề nghị việc quan trọng bậc nhất lúc này chưa phải là cách đánh gì mà phải làm cho tất cả mọi người, mọi cấp, kể cả trong quân đội và ngoài nhân dân đều không sợ Mỹ, dám đánh Mỹ đã làm cho mọi người đều thấy lính Mỹ to xác nhưng không to gan bằng bộ đội ta, cổ vũ mọi người hãy làm theo kinh nghiệm của những đơn vị đã đọ súng với Mỹ. Đơn vị nào, địa phương nào, cá nhân nào có gan dám đánh Mỹ, không sợ Mỹ cứ sáp vô mà đánh, bám thắt lưng Mỹ mà đánh sẽ tìm ra cách đánh Mỹ tốt nhất, có hiệu quả nhất.

Đồng chí Nguyễn Chí Thanh cũng nhất trí phải khẩn trương xây dựng thêm lực lượng ba thứ quân. Cả chủ lực bộ đội địa phương, dân quân, du kích đều phải phát triển cả về số lượng và chất lượng. Riêng bộ đội chủ lực ở Miền Đông, một mình sư đoàn 9 chưa đủ mà phải khẩn trương xây dựng thêm một-hai sư đoàn nữa. Quả đấm chủ lực phải mạnh hơn mới đủ sức chống chọi lại các cuộc phản công lớn của địch, trước mắt là mùa khô 1965-1966.

Ngay trong hội nghị này, Quân ủy và Bộ Tư lệnh Miền phát động phong trào thi đua mới “Tìm Mỹ mà đánh, thấy ngụy là diệt”. Chính câu nói “Bám thắt lưng Mỹ mà đánh” của đồng chí Nguyễn Chí Thanh từ đây đã trở thành khẩu hiệu hành động rất phổ biến trong phong trào thi đua quyết thắng của các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam.

Cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất mùa khô 1965-1966 của quân viễn chinh Mỹ đã nổ ra đúng như Bộ Tư lệnh Miền đã nắm được trước. Cuộc hành quân được gọi là cuộc hành quân “tìm và diệt” với mục tiêu là tìm diệt một bộ phận chủ lực Quân giải phóng mà họ nói bằng hình tượng là “bẻ gẫy xương sống của Việt Cộng”.

Mục tiêu quan trọng khác chúng đặt ra là “tìm và diệt” cơ quan đầu não của đặc khu Sài Gòn-Gia Định, phá nát căn cứ địa đạo kháng chiến Củ Chi, cùng lúc bình định vành đai, để bảo đảm an toàn cho sào huyệt của chúng ở Sài Gòn.

Để chắc ăn, trong cuộc hành quân này, Mỹ dùng lực lượng quân viễn chinh Mỹ là chính gồm toàn bộ sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, toàn bộ trung đoàn xe tăng và xe bọc thép khoảng 600 chiếc với 100 khẩu pháo hạng nặng yểm trợ ngày đêm. Cuộc hành quân tập trung vào sáu xã vùng Củ Chi - Bến Cát mà Mỹ gọi là vùng “tam giác sắt”. Mở đầu, Mỹ ra oai bằng bom, đạn của phi, pháo. Trên một diện tích khoảng 70km2, quân và dân 6 xã Củ Chi và vùng Hố Bò, huyện Bến Cát phải hứng chịu mỗi ngày khoảng 5.000 trái, làm nhà cửa của nhân dân bị đổ nát tanh bành, hàng nghìn héc-ta ruộng lúa và vườn cây của đồng bào bị hủy hoại. Sau đó sư đoàn 1 “Anh cả đỏ” chia thành mấy cánh quân núp sau xe tăng bung ra lùng sục tưởng như chúng sắp “ăn gỏi” đặc khu Sài Gòn đến nơi. Nhưng vùng “Đất thép” Củ Chi đâu phải là nơi dễ tung hoành của bọn “Anh cả đỏ”. “Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn”, quân và dân Sài Gòn đã phòng bị sẵn sàng đương đầu với từng cánh quân của Mỹ.

Cánh đi “tìm và diệt” sư đoàn 9, có phát hiện ra mấy chỗ khả nghi nhưng đều vồ hụt. Mặc dù một trung đoàn của Sư đoàn 9 được cử đến phối hợp với quân và dân Sài Gòn vẫn ở quanh đây, nhưng đơn vị này không dùng cách đánh chọi trâu với bọn “Anh cả đỏ” mà thu mình giấu quân, ém kỹ một nơi, chuẩn bị sẵn sàng bất thình lình áp vào tập kích quyết liệt làm địch không kịp trở tay. Đánh xong, quân ta lại rút nhanh về giấu quân, ém kỹ một nơi, rồi lại chờ thời cơ đánh tiếp. Cánh quân đi phá đường hầm địa đạo thì lùng sục đào bới hoài không tìm ra một cửa hầm, một bóng du kích nào. Ngày thì im ắng vậy, nhưng đêm đến là nỗi kinh hoàng cho địch. Chỗ nào có quân Mỹ là có tiếng súng nổ. Những chiến sĩ bắn tỉa thoắt hiện, thoắt ẩn vào đường hầm làm cho bọn Mỹ nơm nớp, rất sợ bị bắn tỉa.

Còn cánh quân Mỹ đi hỗ trợ bình định thì vấp phải cuộc đấu tranh chính trị trực diện của đạo quân tóc dài. Các mẹ, các chị tay trong tay kéo ra đường ngang nhiên cản xe bọc thép, giơ cao các khẩu hiệu tiếng Anh đòi Mỹ chấm dứt càn quét, chấm dứt ném bom, bắn pháo, hô hào lính Mỹ về nhà, không gây tội ác với người Việt Nam.

Lúc đầu lính Mỹ cũng hung hăng giơ súng hù dọa, các bà, các chị không sợ, không chịu lùi bước, quân Mỹ phải chịu.

Cuộc hành quân lớn đầu tiên của Mỹ gây cho ta những thiệt hại, nhưng chẳng đạt được mục tiêu nào, dù nhỏ. Quân dân đặc khu Sài Gòn - Gia Định đã đập tan cuộc phản công lần thứ nhất của Mỹ ở trọng điểm miền Đông Nam Bộ. Và từ trong cuộc đọ sức lớn đầu tiên ở ngay cửa ngõ Sài Gòn trong phong trào thi đua chung toàn miền Nam “Tìm Mỹ mà đánh, thấy ngụy là diệt”, nổi lên một phong trào thi đua mới là thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ”, đã xuất hiện những gương chiến đấu diệt Mỹ kiên cường nổi bật là gương diệt Mỹ của xã đội trưởng du kích xã Đức Lập, huyện Củ Chi Phạm Văn Cội và toàn đội du kích của anh đã đeo bám địch, đêm nào cũng diệt được Mỹ, người nào cũng diệt được Mỹ, ai cũng quyết tâm giành danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, không ai sợ Mỹ cả!

Trong tổng kết chiến dịch, Bộ tư lệnh Quân khu Sài Gòn-Gia Định đã rút ra 10 bài học đánh Mỹ rất nóng hổi, trong đó có các bài học là: dám đánh Mỹ, không sợ Mỹ thì ai cũng có thể diệt được Mỹ; vũ khí gì cũng có thể diệt được Mỹ; ở đâu cũng đánh được Mỹ; đánh thắng được tất cả các binh chủng của Mỹ, bộ binh, xe tăng, máy bay, đại bác; đánh Mỹ bằng vũ trang, bằng chính trị, binh vận...

Cuộc thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” đã nhanh chóng thành phong trào rộng lớn của toàn chiến trường miền Nam và câu nói nổi tiếng “Ra ngõ gặp anh hùng” cũng từ phong trào này mà ra...

Sau thất bại cuộc phản công lần thứ nhất (1965-1966), đại sứ Cabot Lodge lại tất tả bay về Hoa Thịnh Đốn để bẩm báo khẩn cấp. Tướng Westmoreland lại rên rỉ đòi tăng quân, tăng phương tiện chiến tranh hòng tìm được chiến thắng bằng quân sự. Bọn hiếu chiến ở Nhà Trắng và Lầu Năm góc vào hùa, gây áp lực trong Chính phủ và Quốc hội Mỹ. Johnson lại vội vã họp Hội đồng an ninh quốc gia quyết định cấp tốc tăng thêm quân vào miền Nam. Con số đầu tiên từ hai tiểu đoàn thủy quân lục chiến đầu tháng 3-1965 tới tháng 7-1965 đã tăng vọt lên tới 44 tiểu đoàn và những tuần sau, tháng sau còn nhiều tiểu đoàn, lữ đoàn Mỹ tiếp tục đổ vào thêm. Đi đôi với việc tăng quân, Mỹ cũng vội điều chỉnh cân đối về chiến lược. Chiến lược “tìm diệt” trong cuộc phản công lần thứ nhất được điều chỉnh thành chiến lược hai gọng kìm ở miền Nam là chiến lược “tìm diệt” và “bình định”. Trong cuộc phản công chiến lược lần thứ hai mùa khô 1966-1967, Mỹ mở cuộc hành quân “tìm diệt” và “bình định” ở miền Đông Nam Bộ là cuộc hành quân lớn nhất kể từ khi quân Mỹ đổ vào miền Nam. Mỹ đã tung vào cuộc hành quân này hầu như toàn bộ các sư đoàn bộ binh thiện chiến nhất là sư đoàn 1 “Anh cả đỏ”, sư đoàn 25 “Tia chớp nhiệt đới”, lữ đoàn dù 173 tới 45.000 quân với toàn bộ lữ đoàn 11 xe tăng, thiết giáp tới 3.000 chiếc, với 300 đại bác hạng nặng, với 300 trực thăng. Không kể máy bay phản lực ở các sân bay miền Nam, còn những “thần sấm”, “con ma” từ hạm đội 7 và máy bay chiến lược B52 từ đảo Guam vào rải thảm... Lực lượng lần này lớn gấp đôi, gấp ba so với cuộc phản công lần thứ nhất vào đặc khu Sài Gòn. Vì vậy, Mỹ cũng đặt ra những mục tiêu cao nhất cho cuộc hành quân này là: Tiêu diệt chủ lực Quân giải phóng; tiêu diệt cơ quan lãnh đạo, chỉ huy của Miền (bao gồm TƯ Cục Miền, Bộ Tư lệnh Miền, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam; đồng thời đẩy mạnh bình định tranh thủ con tìm khối óc của người dân...

Cuộc hành quân này được giao cho thượng tướng Seaman chỉ huy, Seaman vội đặt tên cho cuộc hành quân lạ Junction City. Junction City chỉ là một thị trấn nhỏ ở bang Kansas xa xôi chẳng có tiếng tăm gì, nhưng đó là nơi ở của vợ con hắn mà thôi! Hắn còn hy vọng mai sau chiến dịch này sẽ là một kỷ niệm khó quên cho một vị danh tướng của nước Mỹ!

Với những mục tiêu cực kỳ quan trọng của cuộc hành quân nên Mỹ đã triển khai từng bước rất thận trọng. Ngay từ đầu mùa khô, Mỹ đã cho máy bay rải chất độc làm chết cây, rụng lá khắp rừng miền Đông. Mỹ thả rất nhiều toán biệt kích thám báo để thăm dò. Căn cứ vào những động thái của địch trên chiến trường, lại được cơ sở mật của ta cung cấp toàn bộ kế hoạch cuộc hành quân của Mỹ đánh vào căn cứ địa của Miền. Qua nghiên cứu, Bộ Tư lệnh Miền nhận định đây là một cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ và đây là một cuộc đọ sức lớn nhất giữa quân Mỹ và quân giải phóng miền Nam.

Biết vậy rồi nhưng làm cách nào để đánh bại được địch? Ta lại đang có những khó khăn không dễ khắc phục. Căn cứ của Miền rộng nhưng đều là rừng, hầu như không có dân, không có bộ đội địa phương và dân quân du kích. Lực lượng chủ lực nhìn đi nhìn lại chỉ có sư đoàn 9 và Trung đoàn bảo vệ căn cứ. Vì vậy rất cần có thêm lực lượng để có bộ phận bám sát, cầm chân địch để sư đoàn 9 rảnh tay đánh những trận then chốt, sôi động. Ta còn nắm chắc được con bài tủ của Mỹ trong cuộc phản công này, là dùng sức mạnh yểm trợ tối đa của pháo bày, xe tăng bày làm chỗ dựa cho bộ binh Mỹ. Cuộc hành quân At-ten-bô-rơ của Mỹ vào chiến khu Dương Minh Châu cũ gần đây đã cho ta kinh nghiệm đó.

Trong cái khó, ló cái khôn. Trí tuệ tập thể của Bộ Tư lệnh, của các cơ quan đã tìm ra nhiều giải pháp mới rất sáng tạo. Ngoài việc điện xin Trung ương cho thêm lực lượng, nhất là cho thêm nhiều súng B40, B41 chống tăng và lệnh điều một vài Trung đoàn ở Quân khu lên. Bộ Tư lệnh Miền và cả Trung ương Cục tách hẳn ra một bộ phận nhỏ, di chuyển đến một nơi khác để bảo đảm lãnh đạo chung, bộ phận lớn ở lại bám trụ, tổ chức thành những huyện, những xã, những đơn vị chiến đấu hẳn hoi, lựa chọn những cán bộ, chiến sĩ, nhân viên đã qua chiến đấu gia nhập vào những đội du kích và đặc biệt là lấy tự nguyện vào đội diệt xe tăng địch bằng súng B40, B41. Việc tổ chức này được tất cả anh chị em kể cả cơ quan bên Trung ương Cục hưởng ứng nhiệt liệt. Chỉ trong một thời gian ngắn các huyện, các xã, các đội du kích đã được thành lập xong trong khắp căn cứ với những tên gọi gắn với những tên địa phương rất quen thuộc như huyện Rầm-Đuông Sóc Mới; huyện Suối Mây; huyện Xa Mát; huyện Lò Gò - Bến Ra; huyện Xóm Giữa; huyện Châu Thành; huyện Tà Keng; huyện Cà-Tum; huyện Sóc Ky; huyện Bà Chiêm; huyện Bà Hảo; huyện Tà Dạt... Huyện nào cũng tổ chức được những đội du kích mạnh đã kinh qua chiến đấu, xung phong tự nguyện và được tập trung rèn luyện đêm, ngày. Từ lúc này, phong trào thi đua giành danh hiệu “Dũng sĩ diệt Mỹ” từ đặc khu Sài Gòn đã nổi lên trong khắp căn cứ địa của Miền. Ai cũng muốn ở lại, muốn được vào đội du kích, được tham gia chiến đấu trong thời cơ diệt Mỹ hiếm có này.

Một nữ Việt kiều yêu nước ở Cam-pu-chia, xin mãi mới được về nhập ngũ, rất phấn khởi được phân về làm chị nuôi ở Cục Chính trị Miền đến lúc này cũng năn nỉ xin cho vào đội du kích, không được cầm súng chiến đấu thì cho làm y tá, cứu thương cũng được, xong trận này lại về làm chị nuôi như cũ. Cháu gái Tường Anh, cô liên lạc viên vừa 17 tuổi bẻ gãy sừng trâu mếu máo gặp tôi xin ở lại, xin nhận một khẩu B40, chứ không muốn theo chỉ huy sở cơ bản đến một nơi an toàn. Đây là một thành công lớn, như một phép lạ đặc biệt trong tổ chức chiến đấu của cơ quan R trong kháng chiến chống Mỹ, đã “biến không thành có, biến ít thành nhiều, biến yếu thành mạnh”.

Mọi việc chuẩn bị đối phó của ta được triển khai rất khẩn trương, rất bí mật, địch không hay biết gì cả.

Trước ngày N, Mỹ dùng máy bay chiến lược B52 từ đảo Guam bay vào ném bom rải thảm suốt đêm từ 6 giờ chiều hôm trước đến 6 giờ sáng hôm sau. Tiếp đến là những đợt máy bay phản lực thần sấm, con ma từ hạm đội 7 nối tiếp nhau nhào vào giội đủ các loại bom khoan, bom bi, bom cháy...

Cuộc hành quân Junction City bằng bộ binh bắt đầu từ 22-2-1967. Việc đầu tiên của quân Mỹ dùng toàn bộ lữ dù 173 đổ bộ xuống giáp biên giới Cam-pu-chia để chặn đường rút sang đất bạn. Tiếp theo là các lữ của sư đoàn 1 anh cả đỏ hình thành một vòng vây rộng hai sườn từ Tây sang Đông căn cứ, từ lộ 22 vòng sang lộ 4, bọc chặt lấy căn cứ Dương Minh Châu. Quân Mỹ đã chắc mẩm sắp vớ được mẻ lưới to. Để làm yên lòng bọn hiếu chiến ở Nhà Trắng và Lầu Năm góc, và để lừa mị nhân dân Mỹ trước thế trận đó, tướng Westmoreland đã vội hí hửng lên giọng rằng: “Chiến thắng của chúng ta đang đến gần. Quân đội Mỹ không thể bị đánh bại. Những người con thân yêu của nước Mỹ sắp được về nhà trong khúc khải hoàn ca hùng tráng và được đón tiếp trong vòng tay nồng ấm của những người thân”!

Sau khi lập xong vòng vây, quân Mỹ làm nốt bước cuối cùng của cuộc hành quân là tiến vào vùng ruột căn cứ địa của Miền. Ngày bắt đầu từ 18-3-1966, Mỹ dùng Sư bộ binh 25 tia chớp nhiệt đới hình thành các cánh quân theo sau xe tăng bày của Lữ đoàn 11 thiết giáp, thọc sâu vào các trọng điểm mà Mỹ đinh ninh là các vị lãnh đạo Trung ương Cục và Bộ tư lệnh Miền đang ở đó. Bọn lính Mỹ còn mang theo còng số 8 để nếu bắt được nhân vật quan trọng nào thì còng ngay lại và cho lên trực thăng chở thẳng về Sài Gòn không được chậm trễ. Từ địa bàn xuất phát bầy xe tăng Mỹ chạy phăng phăng như vào chỗ không người. Các đội diệt tăng của ta kiên trì đợi cho chúng đến thật gần mới nổ súng. Ngay từ loạt đạn đầu mỗi phát B40 phóng ra là một chiếc xe tăng bị hạ gục. Hàng loạt xe tăng đi đầu bốc cháy dữ đội. Những chiếc sau khựng lại. Bộ binh Mỹ nhốn nháo, gọi đại bác, máy bay đến cứu. Quân ta vội lánh xuống hầm, dứt bom, pháo lại ngoi lên trực sẵn ở các vị trí chiến đấu. Bầy xe tăng lại bò vào, nhưng không một chiếc nào thoát chết bởi đạn B40, B41 của các đội du kích cơ quan rất tài ba và dũng cảm. Đây có lẽ là bất ngờ lớn nhất của các nhà cầm quân Mỹ trong cuộc hành quân này. Họ những tưởng dùng xe tăng là phá nát căn cứ địa kháng chiến của Miền trong chốc lát. Nào ngờ lại giậm chân tại chỗ. Họ càng không biết lực lượng nào đã cản nổi bước tiến xe tăng của Mỹ. Họ vẫn đoán già, đoán non, chỉ có thể là Sư đoàn 9 Nam Bộ!

Thật ra Sư đoàn 9 không ở đó nhưng vẫn bám sát mọi hoạt động của các đơn vị Mỹ. Sư đoàn 9 vẫn không theo lối đánh chọi trâu, mà nhè chỗ sơ hở của Mỹ, thình lình sáp vô đánh nhanh, diệt gọn từng đơn vị Mỹ. Ngay trước khi quân Mỹ mở đợt thọc sâu vào căn cứ địa của R, trung đoàn 2 của sư 9 đã tập kích mãnh liệt vào cứ điểm Đồng Pan ở ngã ba đường 22, là địa bàn xuất phát của địch diệt trên 400 tên địch, phá hủy gần 200 xe cơ giới các loại. Tiếp theo là trung đoàn 3 cũng của Sư đoàn 9 cũng tổ chức trận đánh vào cánh quân ở hậu cứ chiến dịch của địch ở Bàu Bàng diệt cả 100 xe cơ giới, làm chết và bị thương rất nhiều lính Mỹ. Cùng thời gian ấy, bộ đội đặc công mò vào đánh trúng Sở chỉ huy chiến dịch của địch ở Dầu Tiếng.

Trong hoàn cảnh ấy, quân Mỹ vẫn được lệnh tiếp tục thọc sâu, sục kỹ. Dần dà, lính Mỹ cũng tới được mấy ngôi nhà bỏ trống, nhặt nhạnh được ít tài liệu vương vãi. Xe tăng cũng khui được vài ngách hầm, nơi cất giấu phim quay, phim chụp ảnh của điện ảnh Quân giải phóng. Tất cả được trực thăng Mỹ đem về mở cuộc triển lãm rất rùm beng ở Sài Gòn.

Nhưng với binh hùng, vũ khí bén như vậy mà tướng Seaman chỉ làm được đến thế là không thể tha thứ. Tướng Westmoreland đùng đùng nổi giận, cách chức tướng Seaman ngay giữa chiến dịch. Danh tướng bỗng thành bại tướng. Bại tướng Seaman cũng phải buộc miệng than thở: “Chúng ta đến đây mà không giết được một tên Việt cộng nào và không tìm thấy gì thì thật là tưng hửng...”.

Trảm tướng giữa trận, làm cho cấp dưới và binh sĩ Mỹ càng hoang mang chán ngán. Một lính Mỹ ở mũi thọc sâu, bị bỏ xác lại căn cứ còn mang trong mình lá thư viết cho vợ chưa kịp gửi “Chiến sự thế nào, em theo dõi chắc đã biết. Anh đang ở đó đã 5 ngày rồi không được tắm. Anh chỉ mong cho chóng hết tám tháng còn lại của đời lính để cởi bỏ áo khuy đồng và mũ sắt trả lại cho chính phủ, để về làm một người thường dân Mỹ sống bên em...”.

Cuộc hành quân lớn nhất của Mỹ, càng kéo dài, càng thọc sâu, càng bị mắc kẹt. Mũi thọc sâu, với chiến thuật xe tăng bầy đã làm mồi cho các dũng sĩ diệt xe tăng Mỹ bằng súng B40, B41 của các đội du kích cơ quan. Vòng vây hẹp bên trong, vòng vây rộng bên ngoài bị Sư đoàn 9 và các đơn vị khác chọc thủng, chặt dứt thành nhiều khúc, kẻ đi bao vây lại bị vây lại, bị cô lập ở nhiều chỗ.

Loay hoay mãi không tiến được đành phải lui. Để bảo tồn lực lượng, tướng Westmoreland lệnh cho mũi thọc sâu tạm dừng lại củng cố, còn các cánh quân vòng ngoài dồn lại từng cụm. Lúc này, nhất cử nhất động của Mỹ đều không qua được mắt Bộ tư lệnh và các cơ quan của Miền. Các đơn vị Mỹ dồn đến đâu đều bị bám đánh đến đó. Cuối cùng ở hướng Đông địch dồn cục thành cụm lớn ở Trảng Ba Vũng, tây bắc Suối Ngô giáp với vùng căn cứ của Bộ tư lệnh Miền. Ta phán đoán có thể địch co cụm về đây củng cố để tiếp tục cuộc hành quân hỗ trợ cho mũi thọc sâu đang bị mắc kẹt trong căn cứ, hoặc đây là nơi địch cụm lại để rút khỏi cuộc hành quân vô vọng này. Trong khi đó ngày 30-3 địch lại đổ thêm hai tiểu đoàn Mỹ xuống Trảng Ba Vũng và đổ một tiểu đoàn xuống Trảng Ba Chân ở gần đó.

Đồng chí Tư lệnh Trần Văn Trà và các đồng chí Bộ Tư lệnh Miền hạ quyết tâm tập trung lực lượng tiêu diệt cụm quân Mỹ này làm cho cuộc hành quân lớn của địch sớm ngã ngũ. Đồng chí Ba Long (Lê Trọng Tấn) Tư lệnh phó của Miền được phân công trực tiếp chỉ đạo trận đánh then chốt của chiến dịch.

Ngay trong đêm 30-3 rạng sáng 1-4-1967 Sư đoàn 9, có pháo binh của R yểm trợ, tập trung lực lượng tập kích mãnh liệt suốt đêm đến 6 giờ sáng tiêu diệt xong cụm địch lớn ở Trảng Ba Vũng. Bọn địch báo về Sài Gòn, đây là trận đánh ác liệt nhất trong cuộc hành quân Junction City. Không những thế đây còn là trận góp phần chôn vùi toàn bộ cuộc phản công chiến lược lớn nhất mùa khô 1966-1967 của địch.

Hôm sau tôi xuống thăm đơn vị vừa tham gia đánh trận Ba Vũng (Tây bắc Suối Ngô) được đọc hai câu ca dao trên tờ bích báo của đại đội như sau:

“Miền Nam Mỹ có hai mùa,
Một mùa thất bại, một mùa thua...”

Chiến sĩ ta tài thật, vừa đánh xong đã có thơ liền.

Mà sự thật đã rõ ràng như vậy.

Sự thật là cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất (mùa khô 1965-1966) Mỹ đã không tìm diệt được Đặc khu Sài Gòn-Gia Định mà còn bị mắc kẹt trong đường hầm địa đạo Củ Chi. Đến cuộc phản công chiến lược lần thứ hai (mùa khô 1966-1967) Mỹ mở cuộc hành quân lớn nhất, mưu tìm chiến thắng bằng quân sự để chấm dứt chiến tranh nhưng lại là đỉnh cao thất bại của Mỹ về quân sự. Còn cuộc phản công lần thứ ba theo kế hoạch của tướng Westmoreland chưa kịp nổ ra, đã bị cuộc Tổng tấn công và nổi dậy của quân dân miền Nam mùa xuân 1968 nhấn chìm, buộc Tổng thống Johnson phải xuống thang, phải thay đổi chiến lược chiến tranh cục bộ, phải rút quân đội Mỹ về nước trong tâm trạng ê chề của kẻ bại trận chứ không phải trong khúc khải hoàn ca hùng tráng như tướng Westmoreland và bọn hiếu chiến Mỹ hằng mơ tưởng.

(1) Tiếng Nam Bộ là nói lắp, là khó nói.

VĂN PHÁC Nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân Giải phóng miền Nam

Quân đội nhân dân

Có thể bạn quan tâm