Ngày mồng 6 tháng 9 năm 1971, hàng trăm thầy giáo, sinh viên của các trường đại học trên miền bắc lúc bấy giờ theo tiếng gọi của Tổ quốc và trái tim đầy nhiệt huyết đã "xếp bút nghiên" lên đường chiến đấu. Ðó là đợt tòng quân vào loại lớn nhất của thầy giáo, sinh viên đại học. Trước đó tròn một năm cũng có một đợt tuyển quân là sinh viên đại học lớn tương tự.
Nhớ lại, những ngày đầu tháng 9 năm 1971 ấy, các tỉnh miền bắc đang chống chọi với cơn lũ lịch sử. Ngày lên trường để nhập ngũ, không ít sinh viên, thầy giáo phải vượt qua bao đoạn đường hiểm nguy. Ngày giao quân thật sự là ngày hội, nước mắt đương nhiên là có. Nhưng, lời đùa cợt vui vẻ và nụ cười vẫn nhiều hơn rất nhiều. Thời bấy giờ, cuộc sống rất khổ, sinh viên không ngoại lệ. Chính vì vậy, rời sinh viên vào quân ngũ, gian khổ không làm cho chúng tôi bỡ ngỡ, ngoại trừ nếp sinh hoạt. Tuy nhiên, chúng tôi làm quen khá nhanh. Ðiều đặc biệt, tuy là đám "dài lưng tốn vải", nhưng chúng tôi tiếp thu các bài tập, khoa mục chiến đấu rất nhanh. Công việc khó khăn và vất vả nhất của người lính trong thời kỳ tân binh là luyện tập hành quân mang vác nặng thì chúng tôi không phải rèn mấy. Chưa một lần nào chúng tôi phải nhét đất cát vào ba-lô tập hành quân, rèn thể lực. Chính vì thế, lần thật sự hành quân mang vác nặng khó nhọc nhất là đợt chuyển quân từ Nhã Nam, Tân Yên (Hà Bắc cũ) sang huyện Quế Võ. Ngoài tư trang, vũ khí, chúng tôi còn phải chia nhau mang lương thực, nồi niêu quân dụng cho nên khá nặng. Trước đó, theo "sáng kiến" của anh lính sinh viên năm thứ nhất khoa Văn Trường đại học Tổng hợp Hoàng Nhuận Cầm, tôi chia mấy quyển Văn nghệ quân đội, tập thơ, tập truyện ngắn vào ba-lô của mấy người cho "công bằng". Hành quân chưa hết ngày đầu tiên, Hoàng Nhuận Cầm đã lại nảy ra "sáng kiến": "Hay là mình vứt bìa của mấy quyển truyện, Văn nghệ quân đội đi cho đỡ nặng?".
Không hiểu sao trong thời kỳ huấn luyện tân binh lại có tin đồn, trong tương lai, chúng tôi sẽ không phải là những người lính trực tiếp chiến đấu mà sẽ trở thành những cán bộ cho các vùng giải phóng. Thực tế, sau ba ngày hành quân từ Tân Yên về Quế Võ, chúng tôi được chia về các đơn vị tên lửa, xe tăng, pháo binh, bộ binh... Ngay lập tức, chúng tôi lao vào các trận đánh ác liệt. Rất nhiều người trong số này lặng lẽ nằm xuống trên khắp các chiến trường, mà có lẽ nhiều nhất là Quảng Trị.
Khoác áo lính, chúng tôi, những nhà kiến trúc, kỹ sư cơ khí, kỹ sư nông nghiệp, bác sĩ, giáo viên... tương lai đều tạm gác những ước mơ dự định. Nhưng, với những người có thiên hướng, ý định cầm bút làm thơ thì môi trường mới lại là mảnh đất màu mỡ. Rất nhiều người đã có những bài thơ đầu tiên một cách thật sự. Sở dĩ chỉ có thể làm thơ, còn viết truyện, viết kịch... rất khó. Khó không chỉ là thời gian mà là giấy, mực. Ai cũng chỉ có quyển sổ tay nho nhỏ không đủ dùng để viết truyện vì còn phải ưu tiên cho bao việc khác: Nào là ghi nhật ký, làm giấy viết thư, thay giấy cuốn thuốc lá... Thời đó ai cũng có thể có cái bút máy Trường Sơn hoặc Ba Vì. Nhưng, để có mực viết lại là một kỳ công. Mỗi người đều có một cái lọ nhỏ mà tốt nhất Pênêxilin có nút bằng cao-su dùng để đựng mực. Lúc ấy, chẳng có băng dính như bây giờ, ngay đến miếng ni-lông mỏng, sợi dây chun cũng khó kiếm. Muốn không bị đổ, chỉ có cách nhét ít bông vào lọ mực. Khi nào hút thì dùng đầu bút ép miếng bông vào thành lọ cho nó nhả mực.
Trong những người sinh viên khoác áo lính ở đơn vị tôi thời đó có khá nhiều người làm thơ. Ngoài Hoàng Nhuận Cầm còn có Vũ Ðình Văn (về sau là lính tên lửa và hy sinh), Huy Thịnh (hiện ở báo Hà Nội Mới), Phùng Nguyên Bảng (hiện ở báo Tiền Phong)... Người làm thơ đầu tiên, làm nhiều nhất và thành công nhất là Hoàng Nhuận Cầm. Ngay những ngày đầu tiên của đời lính, đôi mắt hồn nhiên của con trai một nhạc sĩ ở phố Hàng Bạc (Hà Nội) đã phát hiện ra: Nhà đá ong âm thầm mang lời đất / Cây xấu hổ giấu bao điều cổ tích / Mắc cỡ gì mà khép cánh ư em? Cho đến giờ, mỗi khi đọc lại những câu thơ của Cầm vẫn luôn gợi nhớ cho chúng tôi những vùng đất, gương mặt đồng đội, những trận đánh, những thử thách... mà chúng tôi đã đối mặt. Bài thơ Anh bộ đội và tiếng nhạc la đích thị là Cầm nảy tứ tại địa điểm đóng quân ở Ðá Mài (Quảng Bình). Bài Bức tranh dọc đường hành quân Cầm lấy cảm xúc trong những ngày ở Yên Thế, Nhã Nam. Trong thơ của Cầm có khá nhiều khuôn mặt của đồng đội: Huế bảo quê nhà giờ đang mùa cấy. Cả Hùng nữa sao cứ cười hoài vậy. Nhớ cô bạn nào hay hát bâng quơ. Và, Nghe súng nổ biết Thịnh thương mẹ thế... Song, không phải những câu thơ hay, đẹp mượt mà hoặc mang tính chiến đấu cao của Hoàng Nhuận Cầm mới có tác dụng động viên tinh thần đồng đội. Ðến bây giờ rất nhiều người trong đơn vị còn nhớ những câu thơ vui, tếu táo của Hoàng Nhuận Cầm: Nào Lan, Huơng, nào Thương, nào Ðiệp. Những tên người như súng liên thanh... giúp chúng tôi có thêm nhiều tiếng cười sảng khoái trong những giờ phút nghỉ ngơi giữa hai trận đánh.
Hoàng Trần Cương cũng là sinh viên Trường Tài chính - Kế toán - Ngân hàng Trung ương "xếp bút nghiên lên đường chiến đấu". Cương nhập ngũ trước chúng tôi một năm. Là dân sổ sách, bàn tính nhưng Hoàng Trần Cương lại thích, lại giỏi làm thơ hơn làm toán. Những ngày tháng trên mạn phía tây đường Trường Sơn, anh lính pháo cao xạ 37 ly Hoàng Trần Cương đã lầm lũi làm thơ trong những giờ phút đợi chờ nổ súng vào không lực Mỹ. Nếu như Hoàng Nhuận Cầm thành công ngay từ những bài thơ đầu tiên viết trong mầu áo lính thì Hoàng Trần Cương ngược lại. Thơ Hoàng Trần Cương viết trong thời quân ngũ không nhiều và ít thành công. Ngay cả trong thời kỳ làm tờ báo của sư đoàn (thật ra là tờ tin), Hoàng Trần Cương có đất dụng võ, nhưng cũng chẳng có mấy bài thơ nào đáng kể. Nhưng, sau ngày ra quân, thơ của Hoàng Trần Cương lại phát tiết. Không nhiều người biết rằng, những tứ thơ, câu thơ, đoạn thơ trong trường ca Trầm tích, Hoàng Trần Cương đã thai nghén từ trong những tháng ngày khoác áo lính.
Những sinh viên khoác áo lính, làm thơ và thành danh như Hoàng Nhuận Cầm, Hoàng Trần Cương khá hiếm. Nhưng, những người làm được một vài bài thơ đăng trên sách, báo, thậm chí được ngâm đọc trong các chương trình thơ trên Ðài phát thanh rất nhiều. Nhiều người trong số này sau khi ra quân, trở về trường đại học học tiếp nhưng không theo nghề mà trở thành nhà văn, nhà báo, biên kịch... và chẳng bao giờ còn thấy làm thơ. Cứ như là, hồn thơ trong họ cũng khoác bộ quân phục mầu xanh?
Bốn, năm năm bỏ áo sinh viên khoác áo lính quả là thời gian không dài trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhưng, không thể phủ nhận, đó là quãng thời gian thử thách ác liệt của mỗi một con người. Nhưng, nhờ những câu thơ của đồng đội, đã giúp lứa sinh viên chúng tôi thêm sức mạnh trong quãng đời quân ngũ. Ðược biết, Quỹ Mãi mãi tuổi 20 của Thành Ðoàn Hà Nội đang có kế hoạch xuất bản tập thơ của sinh viên khoác áo lính những năm đánh Mỹ. Hy vọng tập sách chọn được đầy đủ các sinh viên - người lính - nhà thơ của một thời bom đạn.
QUANG HOÀN