Mùa xuân năm 1968 – Tết Mậu Thân đã qua cách đây 40 năm là một mùa xuân của tổng tiến công và nổi dậy lịch sử của quân và dân tỉnh Quảng Nam và của cả dân tộc. Giờ đây hồi tưởng lại tôi vẫn nhớ như in bao điều. Hồi đó, trước Tết âm lịch một tháng, chúng tôi đã nhận được lệnh chuẩn bị tổng tiến công và nổi dậy từ anh Võ Chí Công (Năm Công) và anh Chu Huy Mân (Hai Mạnh). Đêm 31-1-1968, thay vì chuẩn bị Tết, đón giao thừa như thường lệ, chúng tôi đã ráo riết chuẩn bị tiến công thị xã Tam Kỳ và các trung tâm huyện, thị xã trong tỉnh.
Lúc ấy tôi là Phó Bí thư Tỉnh ủy-Chính trị viên Tỉnh đội; anh Kim Anh là Tỉnh ủy viên, Tỉnh đội trưởng. Để có ngày tiến công toàn diện ấy, ban cán sự Tỉnh đội chỉ nhận nhiệm vụ trước một tháng làm sao tập trungđược bốn tiểu đoàn. Bốn tiểu đoàn – một con số không ít, đồng thời tổ chức, sắp xếp lại lực lượng, phân công trách nhiệm từng cánh quân để thực hiện lệnh của Quân khu, đánh chiếm, giải phóng thị xã Tam Kỳ trong đêm giao thừa năm ấy. Tỉnh có sẵn hai tiểu đoàn bộ binh D70 và D72, rút thêm ba đại đội từ Quế Sơn, Tiên Phước, Tam Kỳ, C12 để xây dựng thêm một tiểu đoàn (D74). Đồng thời rút V16 và C đặc công thị xã đôn lên thành liên đội đặc công.
Yểm trợ cho Cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân Mậu Thân, Quân khu chi viện hai khẩu pháo 75 ly để sử dụng vào việc kiềm chế cứ điểm trung đoàn 5, sư đoàn 2 của địch đóng tại Tuần Dưỡng. Đây là những công việc của lực lượng từ “ngoài đánh vào”, còn việc nổi dậy, vận động quần chúng đấu tranh chính trị là do anh Nguyễn Thành lo tổ chức lực lượng. Đông và mạnh nhất là lực lượng các xã vùng đông.
Tại đây, theo kế hoạch khi tiếng súng quân ta khai hỏa, điểm từ cơ quan đầu não của địch, nhân dân được tổ chức thành từng tổ, đội kéo lên phía đông thị xã Tam Kỳ để đấu tranh với địch. Tương tự như vậy, ở hướng nam Tam Kỳ do anh Lẫm phụ trách, quần chúng sẽ kéo ra từ hướng đầu cầu Tam Kỳ. Riêng bắc Tam Kỳ và Tiên Phước sẽ tổ chức thành hai mũi: một mũi kéo xuống ngõ chợ Quán Rường, một mũi kéo xuống ngã ba Trường Xuân.
Để tỉnh và thị xã cùng phối hợp nhịp nhàng, hành động bất ngờ, tỉnh đã tăng cường cán bộ về cho Tam Kỳ. Theo đó, anh Đào Đắc Trinh (Sáu Bạc) – Phó Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp làm Bí thư thị ủy; anh Đỗ Thế Chấp (Mười Chấp, đã được phong danh hiệu Anh hùng LLVTND) làm Phó Bí thư thị ủy; anh Hồ Trượng làm Chính trị viên thị đội; anh Dương Ngộ làm Thị đội trưởng; anh Trần Chí Thành là Thị ủy viên phụ trách cánh bắc và lực lượng hợp pháp, nắm các cơ sở cách mạng ngay trong lòng địch… Tôi nhớ đại để là vậy. Tỉnh cũng đã tăng cường cán bộ cho thị xã để có đủ 300 cán bộ cùng các cánh quân đảm nhận trách nhiệm giải phóng thị xã, còn ở huyện nào lo cho huyện ấy để chuẩn bị tốt nhất cho cuộc tổng tiến công và nổi dậy.
Như vậy, chỉ sau một tháng, tỉnh đã hình thành bốn tiểu đoàn bộ binh, trong đó có một tiểu đoàn pháo. Phương án tác chiến được Thường vụ Tỉnh ủy thông qua là: Sử dụng D70 đánh tỉnh đường; liên đội đặc công đánh phủ đầu đại đội công binh Mỹ và liên đoàn bảo an; đội công binh đánh cầu Tam Kỳ; D72 làm lực lượng dự bị.
Chúng tôi đã chuẩn bị mọi việc đâu ra đấy, đùng một cái có một tình huống xảy ra ngoài kế hoạch – đó là Quân khu chỉ đạo lùi lại một đêm mới nổ súng. Trong khi đó các lực lượng đã tiến về các vị trí xung yếu để chờ lệnh, như lực lượng của ta ở Thăng Bình đã tập kết xuống vùng đông từ trước để khi có lệnh là đánh vào thị trấn Hà Lam vào tối 30 rạng sáng 31-1-1968… Lúc đó, làm sao có thể thông tin được bởi điện đài không có, trong khi giờ nổ súng đang đến gần. Chúng tôi – bộ phận tiền phương đứng ở Trường Xuân gồm: anh Vũ Trọng Hoàng (Bốn Hương)-Bí thư Tỉnh ủy, tôi là Phó Bí thư – Chính trị viên Tỉnh đội; anh Đào Đắc Trinh – Bí thư thị ủy và anh Đỗ Thế Chấp – Phó Bí thư thị ủy đứng ngồi không yên.
Đúng giờ khai hỏa, như đã định các lực lượng, các cánh quân-những người con kiên trung nhất của quân và dân Quảng Nam nhận được lệnh đã bắt đầu tiến công dữ dội các cơ quan đầu não của địch trên toàn chiến tuyến. Đầu tiên, cuộc tiến công của lực lượng Thăng Bình do anh Nguyễn Đức Bốn (Bốn Tuấn) chỉ huy đánh vào thị trấn Hà Lam tối 30 rạng sáng 31-1, đồng thời bắc loa kêu gọi đồng bào, địch hoang mang, một số đầu hàng, một số bỏ chạy, đồng bào phấn khởi, náo nức.
Thế nhưng, tại Tam Kỳ thì một ngày sau đó, tức 4 giờ sáng ngày 1-2-1968 mới nổ súng. D70 – tiểu đoàn thiện chiến của tỉnh đồng loạt bao vây và tiến công các cơ quan đầu não của địch, tỉnh đường Quảng Tín do đại tá tỉnh trưởng chế độ cũ Đào Mộng Xuân chỉ huy. Còn ở phía tây thị xã, liên đội đặc công do đồng chí Vĩnh chỉ huy đã cắt các lớp rào thép gai đột nhập tiêu diệt các lô cốt, U-Sam án ngữ phía tây thị xã, đánh thẳng vào Sư đoàn 2 của địch, chiếm trận địa pháo, kho xăng và kho đạn. Tiểu đoàn 74 và đội đánh xe tăng từ phía đông triển khai bám sát quốc lộ 1, chiếm giữ một đoạn đường huyết mạch, đánh thẳng vào thị xã, chiếm trại lính và bãi xe cơ giới. Mọi nơi, mọi mặt trận, các cánh quân tiến công dồn dập, chớp nhoáng khiến địch hoang mang, một viên chỉ huy của địch ở Tam Kỳ hốt hoảng: “Ở Tam Kỳ, Việt cộng như từ dưới đất chui lên, từ trên trời rơi xuống…”.
Rất tiếc trong cái đêm ngập tràn niềm tin chiến thắng ấy, hai khẩu pháo 75 ly và cối vì người phụ trách bất cẩn quên giờ nổ súng để kìm chân địch ở cứ điểm Tuần Dưỡng như đã phân công (sau đó đã bị xử lý kỷ luật). Vì thế từ Tuần Dưỡng, trong thế trận bị bao vây, phong tỏa trên nhiều mặt trận, quân địch từ cứ điểm này đã dễ dàng kéo vào thị xã phản kích dữ dội để cứu vãn tình thế, giải nguy cho đồng đội chúng.
Trong trận kìm chân quân địch từ Tuần Dưỡng kéo vào tỉnh lỵ ngoài dự đoán, khi một chiến sĩ giữ B40 đã hy sinh, xe tăng địch tiến về phía ta. Ngay tức khắc, đồng chí Nguyên, Đại đội trưởng đại đội 1, trườn tới nắm lấy khẩu súng bình tĩnh tiêu diệt liên tiếp ba xe tăng địch, khiến cả đoàn xe tăng địch phải rút lui, gọi pháo binh từ Tuần Dưỡng cùng máy bay lên thẳng bắn phá vào đội hình của ta thuộc Tiểu đoàn 74. Tại đây các chiến sĩ đã kiên cường đào công sự, bám trụ, phản kích giữ trận địa cả ngày 1-2.
Ở cánh đông, lực lượng do đồng chí Nguyễn Xuân Đề chỉ huy chiếm được An Thành Lạc Viện, dùng loa kêu gọi địch đầu hàng và cổ vũ quân dân ta tiếp tục chiến đấu. Từ phía bắc, Tiểu đoàn 70 do hai đồng chí Nguyễn Thành Năm và Lê Hải Lý chỉ huy đánh vào tỉnh đường Quảng Tín. Sau năm phút nổ súng, đại đội bảo an giữ tỉnh đường bên ngoài đã bị ta tiêu diệt hoàn toàn; mũi thọc sâu vượt qua hỏa lực địch đánh vào tỉnh đường, nhà lao và các mục tiêu chung quanh, sau đó gặp phải sự phản ứng, chống cự của địch.
Pháo từ Tuần Dưỡng bắn dồn dập, xe tăng địch đột kích, đến 8 giờ ngày 1-2 Tiểu đoàn 70 phải rút lui ra đánh địch bên ngoài tỉnh đường. Riêng mũi thọc sâu của Đại đội 2 chiếm tỉnh đường ở tầng hai không nhận được lệnh rút đã tổ chức chiếm giữ trên tầng hai, dũng cảm đánh lui nhiều cuộc phản kích của địch trước khi tất cả anh dũng hy sinh, không một ai để bị lọt vào tay địch. Đó là một trận đánh lịch sử, diễn ra từ đêm 31 đến rạng ngày 1-2-1968 tại tỉnh đường Tam Kỳ.
Như đã nói ở phần trên, tư tưởng chỉ đạo của ta về Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1968 là sự kết hợp giữa quân sự và chính trị, tiến công kết hợp với nổi dậy của quần chúng, ngoài đánh vào trong đánh ra. Thế nhưng, lực lượng gồm 5.000 quần chúng lúc đó từ các hướng kéo về Tam Kỳ đã gặp phải sự ngăn chặn của địch, do vậy yếu tố nổi dậy đã không diễn ra như mong đợi. Ở đây cũng cần nói thêm lúc đó lực lượng công binh được giao nhiệm vụ đánh sập cầu Tam Kỳ đã không hoàn thành nhiệm vụ. Lực lượng quần chúng từ phía nam kéo ra bị địch phản kích, không thực hiện được vai trò quan trọng trong thời điểm ấy…
Tết Mậu Thân-Xuân 1968 cách đây đã tròn 40 năm, nhưng trong tôi vẫn còn gợi nhớ bao điều. Nhớ về một trận đánh, về những đồng chí, đồng đội đã anh dũng, ngoan cường trong chiến đấu, dũng cảm hy sinh, nhớ về những đồng bào đã nổi dậy và ngã xuống khi quân ta đã chiến đấu với địch, trụ bám ba đêm hai ngày giữa sào huyệt của địch. Cái giờ phút khó xử lý tình huống ấy, giờ đây tôi vẫn chưa thể nào quên.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 ở Quảng Nam tuy chưa thật đạt mục tiêu đề ra, nhưng đã góp phần vào thắng lợi chung của toàn dân tộc. Trên thế thắng, quân và dân ta đã buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, xuống thang chiến tranh, rút quân về nước; tiến lên giành Đại thắng mùa Xuân 1975 lịch sử.