Nhìn lại năm năm sắp xếp, đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước

Những năm qua, Chính phủ đã tập trung cho việc ban hành các cơ chế, chính sách, tạo khung pháp lý tương đối đồng bộ để sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhà nước (DNNN); đề ra nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp cho từng thời kỳ; chỉ đạo tổ chức thực hiện một cách kiên quyết; đã đạt được kết quả quan trọng.

NHÌN LẠI NĂM NĂM QUA

Kết quả chủ yếu

1. Thể chế hóa Nghị quyết Ðại hội IX, Nghị quyết Trung ương 3 và Trung ương 9 (khóa IX) về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN; sau khi Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Doanh nghiệp, Luật Ðất đai, Luật Kế toán và Kiểm toán, Luật Cạnh tranh, Luật Các tổ chức tín dụng... được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã ban hành gần 40 văn bản quy phạm pháp luật với những cơ chế, chính sách nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của DNNN và bình đẳng với doanh nghiệp (DN) thuộc thành phần kinh tế khác trong cơ chế thị trường; đổi mới phương thức tổ chức quản lý, chuyển dần từ quản lý chủ yếu bằng hành chính đối với DNNN sang cơ chế đầu tư vốn... tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc sắp xếp, đổi mới DNNN. Ðặc biệt về CPH, đã từng bước hoàn thiện và quy định rõ đối tượng, nguyên tắc, phương pháp xác định giá trị DN, phương thức bán cổ phần lần đầu; xử lý nợ đọng; giải quyết chế độ cho lao động dôi dư; bán đấu giá; quyền và nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước trong công ty cổ phần... Các quy định này được sửa đổi, bổ sung kịp thời, phù hợp yêu cầu và thực tế DNNN.

2. DNNN đã được sắp xếp lại một bước quan trọng, giảm mạnh các DN nhỏ, thua lỗ, tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vực then chốt; tiếp tục giữ vai trò nòng cốt trong nền kinh tế và cơ bản đáp ứng được nhu cầu thiết yếu cho quốc phòng, an ninh và nhiều sản phẩm, dịch vụ công ích. 

a) Thực hiện các Ðề án sắp xếp, đổi mới DNNN:

Trên cơ sở đề nghị của các bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 104 Ðề án tổng thể sắp xếp DNNN với các hình thức và lộ trình sắp xếp phù hợp cho từng DNNN. Ðây là cơ sở pháp lý quan trọng để các bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện sắp xếp, đổi mới DNNN.

Với những chương trình, giải pháp cụ thể và sự chỉ đạo sát sao từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tới các bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước, với nhận thức đầy đủ và quyết tâm của phần lớn số DNNN, đến hết tháng 8-2006, cả nước đã sắp xếp 4.447 DN, trong đó, CPH 3.060 DN. Riêng từ năm 2001 đến nay, đã sắp xếp 3.830 DNNN (bằng gần 68% số DNNN có vào đầu năm 2001); trong đó, CPH 2.472 DN; giao 178 DN; bán 107 DN; khoán, cho thuê 29 DN; sáp nhập, hợp nhất 459 DN; giải thể, phá sản 214 DN; các hình thức khác 371 DN. 

Hình thức sắp xếp chủ yếu là CPH, chiếm gần 69% tổng số DN đã sắp xếp. Những DN quy mô nhỏ, Nhà nước không cần nắm giữ, không đủ điều kiện CPH đã được giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, giải thể, phá sản; đã triển khai việc bán đấu giá một số DNNN không còn vốn nhà nước.

Ðã chuyển 200 DN trước mắt Nhà nước cần giữ 100% vốn sang hình thức công ty TNHH một thành viên. Trong đó, một số sau khi chuyển thành công ty TNHH một thành viên đã được CPH.

Thực hiện sáp nhập, hợp nhất để sử dụng có hiệu quả hơn cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện có của DN trong cùng ngành nghề khi không áp dụng được các hình thức sắp xếp khác. Các DN sáp nhập, hợp nhất về cơ bản đều dựa trên nguyên tắc phát huy thế mạnh của DN này, khắc phục những hạn chế của DN khác trong cùng lĩnh vực hoặc ngành nghề. Nhờ đó, sử dụng tốt hơn cơ sở vật chất hiện có, góp phần phát huy hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DN. Các hình thức sắp xếp này đã hạn chế được số DN phải giải thể, phá sản, duy trì được việc làm cho người lao động.

Sau quá trình thực hiện sắp xếp, DNNN đã được cơ cấu lại một bước cơ bản, có quy mô vừa và lớn, số DNNN sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ giảm mạnh. Tuy số lượng giảm, nhưng DNNN vẫn tiếp tục chi phối được trong nhiều ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước: gần 40% GDP và 50% tổng thu ngân sách nhà nước.

Trong quá trình sắp xếp, CPH DNNN từ 2002 đến nay, các DNNN đã được xử lý giãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước với tổng số tiền là 314,91 tỷ đồng; xử lý nợ đọng hơn 19 nghìn tỷ đồng, chủ yếu là bằng biện pháp thu hồi nợ, bán tài sản bảo đảm, sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng. Trong số DN đã CPH, có khoảng 2.000 DN có nợ và tài sản loại trừ không tính vào giá trị DN. Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng đã tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ của 1.222 DN với giá trị 1.411 tỷ đồng. Công ty đã xử lý nợ và tài sản cho 331 DN, với tổng giá trị là 390 tỷ đồng; giá trị thu hồi là 125 tỷ đồng.

Thực hiện chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại DNNN, đến 30-6-2006, Quỹ Hỗ trợ lao động dôi dư đã thực hiện hỗ trợ 3.584 DN, giải quyết chính sách cho 191.026 lao động.

b) Các tổng công ty nhà nước đã được đổi mới một bước, năng lực sản xuất, hiệu quả hoạt động, sức cạnh tranh được nâng lên và giữ được vai trò nòng cốt của nền kinh tế; có cơ sở để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.

Từ năm 2001 đến nay, đã giải thể cơ quan văn phòng 5 tổng công ty không giữ được vai trò chi phối, hỗ trợ các công ty thành viên; sáp nhập, hợp nhất 7 tổng công ty; thành lập mới 17 tổng công ty nhà nước; tổ chức lại 7 tổng công ty thành tập đoàn. Ðến hết tháng 8-2006 cả nước có 105 tập đoàn và tổng công ty nhà nước.

Thực hiện thí điểm chuyển công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con có trọng tâm, trọng điểm với sự chỉ đạo tập trung, giải quyết đồng bộ từ thể chế, mô hình đến quy định rõ quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, phát triển các công ty con đa sở hữu... Sau khi sơ kết, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép chuyển 6 tổng công ty 91 và 38 tổng công ty 90 sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.

Việc sắp xếp các tổng công ty nhà nước đã tạo ra sự đổi mới về cơ cấu các DN thành viên; nhiều DN thành viên đã được CPH hoặc chuyển thành công ty TNHH một thành viên để hình thành cơ cấu công ty mẹ - công ty con. Nếu cuối năm 2001 DN thành viên các tổng công ty hầu hết là do tổng công ty giữ 100% vốn điều lệ; thì đến nay cơ cấu DN thành viên đã thay đổi cơ bản. Các tổng công ty 91 chỉ có 57,8% số công ty do tổng công ty giữ 100% vốn điều lệ, các tổng công ty 90 chỉ có 38,7% số công ty do Tổng công ty giữ 100% vốn điều lệ. Nhiều tổng công ty không còn công ty thành viên do tổng công ty giữ 100% vốn điều lệ.

Một số tổng công ty đã tiếp nhận thêm DN của các địa phương hoặc mua lại cổ phần từ các liên doanh, các công ty khác để làm đơn vị thành viên, đầu tư cho các DN này phát triển, có tính tới thương hiệu, tài sản vô hình của tổng công ty trong vốn điều lệ của công ty thành viên này.

Tiến hành thí điểm CPH, Nhà nước giữ cổ phần chi phối, một số tổng công ty như: Tổng công ty Thương mại và Xây dựng, Tổng công ty Ðiện tử Tin học Việt Nam, Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Việt Nam, Tổng công ty Vật tư nông nghiệp, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long.

c) CPH DNNN được triển khai từng bước vững chắc, theo đúng Nghị quyết của Ðảng và quy định của Nhà nước; trở thành hướng quan trọng để sắp xếp lại và tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN; hình thành được DNNN có nhiều chủ sở hữu, vốn và tài sản của Nhà nước được sử dụng có hiệu quả hơn và thu hút thêm vốn của xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh; tạo thêm động lực và cơ chế quản lý mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của DN.

CPH là một khâu quan trọng trong sắp xếp, đổi mới DNNN, chiếm 69% tổng số DNNN được sắp xếp từ trước đến nay.

Các DN CPH có quy mô ngày càng lớn hơn và mở rộng hơn sang các lĩnh vực ngành, nghề trước đây Nhà nước còn nắm giữ 100% vốn. Bước đầu, Thủ tướng Chính phủ đã cho phép thí điểm CPH một số đơn vị sự nghiệp như đoạn quản lý đường sông, đường bộ, các bệnh viện, trường học. Căn cứ thực tế và nhu cầu thu hút vốn để đầu tư, đã áp dụng các hình thức CPH khác nhau, trong đó phổ biến nhất là hình thức bán một phần vốn nhà nước hiện có tại DN và kết hợp phát hành thêm cổ phiếu (69,4%), hình thức bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN (15,5%), hình thức giữ nguyên vốn nhà nước phát hành thêm cổ phiếu (15,1%).

Tổng giá trị thực tế DN đã CPH là 163.935 tỷ đồng. Tổng giá trị thực tế phần vốn nhà nước tại DNNN CPH là 40.237 tỷ đồng, bằng gần 15,5% tổng vốn nhà nước có đến cuối năm 2005. Tổng vốn điều lệ của các DNNN CPH là 43.695 tỷ đồng. Nhà nước còn nắm giữ cổ phần chi phối (từ 50% vốn điều lệ trở lên) đối với 33% số DN đã CPH.

CPH đã tạo ra loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà nước, người lao động trong DN, cổ đông ngoài DN. Tổng hợp chung trong các công ty đã CPH, Nhà nước nắm giữ 49%, người lao động trong DN nắm giữ 26%, nhà đầu tư ngoài DN nắm giữ 25% vốn điều lệ.

Việc bán cổ phần cho các nhà đầu tư chiến lược đã góp phần tạo ra năng lực mới, mở rộng thị trường, tăng thêm tiềm lực tài chính để mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ quản lý, đổi mới công nghệ, tăng khả năng cạnh tranh của DN trên thị trường.

CPH là giải pháp quan trọng trong cơ cấu lại DNNN để DNNN có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn hơn và tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Từ chỗ DNNN rất phân tán, dàn trải trong tất cả các ngành, lĩnh vực, đã tập trung hơn vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, trong đó, nhiều ngành, lĩnh vực Nhà nước cần thiết chi phối để làm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô; quy mô vốn của DNNN cũng được tăng lên. Năm 2001, vốn bình quân một DNNN là 24 tỷ đồng; đến nay, khoảng gần 90 tỷ đồng.

CPH đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào phát triển sản xuất, kinh doanh. Khi CPH, vốn nhà nước tại DNNN đã được đánh giá lại khách quan và chính xác hơn; Nhà nước thu về được khoảng 15 nghìn tỷ đồng (chưa kể phần thu tăng thêm do bán đấu giá cổ phần); đồng thời đã huy động thêm được 21 nghìn tỷ đồng của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội vào DN để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của DN.

CPH tạo cơ sở thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam. Ðến nay, đã có 61 DN CPH niêm yết trên thị trường chứng khoán với tổng số vốn hóa thị trường bằng 7,8% GDP. Với tốc độ phát triển rất cao, thị trường chứng khoán trong tương lai gần sẽ trở thành một kênh rất quan trọng huy động vốn của xã hội đầu tư trực tiếp vào DN.

 CPH bước đầu đã tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động, hiệu quả cho DNNN; tăng cường vai trò giám sát của cổ đông và xã hội đối với DN. Công ty cổ phần hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cổ đông về hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh. Việc kiểm tra, giám sát của người lao động - cổ đông và xã hội đối với công ty cổ phần, nhất là những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong DN một cách thực chất hơn.

CPH tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong DN. Một bộ phận quan trọng người lao động ở DNNN CPH trở thành cổ đông, có quyền dự họp Ðại hội đồng cổ đông để thông qua điều lệ công ty, bầu các thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, biểu quyết các vấn đề liên quan hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc thẩm quyền Ðại hội đồng cổ đông.

CPH góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DN.

3. Triển khai áp dụng các mô hình tổ chức quản lý mới bước đầu đã mang lại hiệu quả cho hoạt động của DN.

a) Chuyển các tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước quy mô lớn sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.

Nhằm đổi mới phương thức tổ chức quản lý, chuyển từ cơ chế quản lý bằng phương thức hành chính là chủ yếu sang phương thức đầu tư vốn, Chính phủ đã ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của công ty nhà nước và chuyển công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Ðến nay, đã có 77 tổng công ty nhà nước và công ty nhà nước độc lập quy mô lớn chuyển sang hoạt động theo mô hình này, tạo sự gắn kết chặt chẽ hơn giữa công ty mẹ với các DN thành viên và giữa các thành viên với nhau trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích của từng công ty và phát triển theo định hướng chung.

Kết quả bước đầu cho thấy kết quả sản xuất, kinh doanh của các đơn vị sau chuyển đổi nhìn chung đều tăng trưởng.

b) Trên cơ sở phát triển các tổng công ty nhà nước, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án hình thành 7 tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ-công ty con và đã quyết định thành lập các công ty mẹ tập đoàn có chức năng đầu tư vốn vào các công ty con, công ty liên kết và trực tiếp sản xuất, kinh doanh.

c) Tổng công ty Ðầu tư và kinh doanh vốn nhà nước đã được thành lập và đi vào hoạt động nhằm mục tiêu tách biệt chức năng chủ sở hữu của cơ quan quản lý hành chính nhà nước đối với DN có vốn nhà nước với chức năng quản lý nhà nước; tiến tới xóa bỏ chức năng chủ sở hữu của các cơ quan này đối với DN hoạt động kinh doanh. Tổng công ty này tiếp nhận và thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty TNHH một thành viên là Nhà nước, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước độc lập hoặc mới thành lập. Cho đến nay, đã có năm bộ bàn giao cho Tổng công ty 40 DN với số vốn bàn giao là 1.735 tỷ đồng.

d) Triển khai thí điểm Hội đồng quản trị lựa chọn để ký hợp đồng với giám đốc giỏi điều hành DN ở các Tổng công ty Xây dựng Sông Hồng, Thủy tinh và Gốm xây dựng, Công nghiệp Ô-tô, Công nghiệp tàu thủy, Thiết bị kỹ thuật điện và Công ty Vận tải đa phương thức.

Những hạn chế

1. Quy mô DNNN vẫn chưa lớn, còn nhiều DN hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không cần chi phối. Không ít tỉnh, thành phố chưa kiên quyết trong CPH, còn để nhiều DNNN hoạt động kinh doanh; một số nơi chưa sắp xếp thu gọn đầu mối các DN hoạt động trong lĩnh vực thủy nông. Số lượng DN tham gia nhiệm vụ cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích còn nhiều, đặc biệt là khối an ninh, quốc phòng. Nhiều đơn vị tỷ trọng cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích thấp, tỷ trọng hoạt động sản xuất, kinh doanh lớn nhưng vẫn tiếp tục duy trì DNNN. Việc sắp xếp các nông, lâm trường còn chậm và lúng túng.

Trình độ công nghệ của DNNN còn lạc hậu; một số DN còn sử dụng công nghệ cũ, tiêu hao nhiên liệu, năng lượng cao. Nhiều DNNN năng suất lao động và hiệu quả hoạt động còn thấp, sức cạnh tranh chưa đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế; còn khoảng 15% số DN làm ăn thua lỗ.

2. Tỷ lệ nợ trên vốn của DNNN còn quá cao, một số công ty có số nợ phải trả gấp năm lần vốn nhà nước tại công ty, có công ty vay gấp hơn 20 lần vốn, dẫn đến độ rủi ro cao, khả năng thanh toán nợ thấp.

Việc xử lý các tồn tại về tài chính còn chậm do nhiều nguyên nhân nhưng chưa được khắc phục.

3. Cơ chế quản lý DNNN còn nhiều bất cập từ quyền tự chủ tuyển chọn nhân sự, điều hành DN, đến tài chính, giá cả, tiền lương... Tổ chức quản lý trong DNNN chuyển biến còn chậm. Nhiều DNNN và DN CPH chưa có điều kiện thay đổi cơ bản quản trị công ty một phần do Nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ tỷ lệ cổ phần lớn trong các DN CPH. Một số tổng công ty nhà nước chưa phát huy được vai trò chi phối trong ngành, lĩnh vực hoạt động. Một số công ty hoạt động còn kém hiệu quả. Ở nhiều tổng công ty giữa Chủ tịch HÐQT và Tổng giám đốc chưa có sự thống nhất trong quản lý, điều hành DN.

4. Kết quả sản xuất, kinh doanh của DNNN nói chung và tổng công ty nhà nước nói riêng chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước.

5. Việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn về Tổng công ty Ðầu tư và kinh doanh vốn nhà nước còn chậm. Một số địa phương (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Lâm Ðồng, Kiên Giang,...) vì để tránh việc chuyển giao, đã chuyển phần vốn nhà nước đầu tư tại các DN này cho các DN khác quản lý.

6. Vấn đề hậu CPH chưa được quan tâm đúng mức; sự hiểu biết pháp luật về công ty cổ phần còn hạn chế, cho nên, có nơi chưa phát huy quyền làm chủ của cổ đông và người lao động, ngược lại có nơi lạm dụng quy định của pháp luật gây khó khăn cho quản lý của Hội đồng quản trị, điều hành của giám đốc.

7. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và lợi ích của người được cử làm đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại DNNN CPH chưa được quy định đầy đủ, nên còn lúng túng.

8. Các mô hình tổ chức quản lý mới triển khai còn chậm, ở một số tổng công ty nhà nước chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con vẫn còn duy trì biện pháp quản lý hành chính đối với các công ty con như giao chỉ tiêu kế hoạch, thu phí quản lý... 

Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

1. Kết quả đạt được trong sắp xếp, đổi mới DNNN có nguyên nhân cơ bản là do: Ðảng có Nghị quyết đúng đắn về sắp xếp, CPH, đổi mới DNNN. Chính phủ đã cụ thể hóa Nghị quyết của Ðảng thành các văn bản quy phạm pháp luật, có cơ chế, chính sách, giải pháp ngày càng đồng bộ, phù hợp và tích cực, kiên định trong chỉ đạo thực hiện. Các bộ, ngành, địa phương, tổng công ty, DNNN đã quán triệt Nghị quyết của Ðảng, chỉ đạo của Chính phủ, coi sắp xếp, CPH là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị và nghiêm túc thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã được phê duyệt. Ban Chỉ đạo Ðổi mới và Phát triển doanh nghiệp làm tốt nhiệm vụ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN.

2. Nguyên nhân của những hạn chế là do: một số bộ, ngành, địa phương, tổng công ty nhà nước chưa quán triệt sâu sắc và nghiêm chỉnh chấp hành Nghị quyết của Ðảng, quy định của Nhà nước. Thiếu chương trình, kế hoạch cụ thể, chưa tích cực sâu sát trong chỉ đạo thực hiện. Chưa kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DNNN sau CPH cũng làm ảnh hưởng tới việc đẩy mạnh cổ phần hoá DNNN. Mặt khác, trên thực tế DNNN còn được ưu đãi hơn, nên không ít DN do dự chần chừ chưa muốn CPH.

Bốn bài học kinh nghiệm

1. Quá trình sắp xếp, CPH, đổi mới DNNN phải quán triệt đường lối kinh tế của Ðảng, kiên định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chú trọng đến DNNN hoạt động ở những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

2. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Ðảng, nhất là các đồng chí đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trong việc nâng cao nhận thức, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, người lao động trong DN; trong lãnh đạo thường xuyên, chặt chẽ và chỉ đạo xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể với những giải pháp phù hợp. Nơi nào có sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy thì nơi đó công tác sắp xếp, đổi mới DNNN đạt kết quả cao.

3. Sắp xếp, đổi mới, phát triển DNNN phải đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cùng với cải cách hành chính. Vì vậy, phải có chủ trương, giải pháp đồng bộ về cơ chế chính sách, hành lang pháp lý, về quản lý, nâng cao năng lực cán bộ lãnh đạo quản trị DN.

4. Công tác chỉ đạo thực hiện có ý nghĩa quyết định trong việc triển khai các chương trình sắp xếp, đổi mới DNNN. Do đó, trong chỉ đạo thực hiện phải tập trung, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, có chương trình, kế hoạch, bước đi vững chắc. Vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để có những điều chỉnh, bổ sung kịp thời cả về chủ trương, cơ chế chính sách, biện pháp thực hiện.

NHỮNG GIẢI PHÁP MỚI

Bối cảnh và yêu cầu

1. Ðại hội X của Ðảng đề ra nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược là hình thành và phát triển hệ thống DN Việt Nam lớn mạnh, có sức cạnh tranh cao. Ðối với DNNN, cần "khẩn trương hoàn thành kế hoạch sắp xếp, đổi mới và phát triển DNNN theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần. Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có ngành chính; có nhiều chủ sở hữu, sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối. Ðẩy mạnh và mở rộng diện CPH DNNN, kể cả các tổng công ty..."; "thực hiện cơ chế Nhà nước đầu tư vốn cho DN thông qua công ty đầu tư tài chính nhà nước; các DNNN huy động thêm vốn trên thị trường, nhất là thị trường chứng khoán để phát triển kinh doanh"; trong giai đoạn tới, cần tiếp tục việc "đặt các DN có vốn nhà nước vào môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳng với các DN khác để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh. Thu hẹp tối đa diện Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ đặc quyền kinh doanh của DN. Có cơ chế giám sát và chính sách điều tiết đối với những DN chưa xóa bỏ được vị thế độc quyền kinh doanh".

2. Quốc hội thông qua kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2006 - 2010 đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước, trong đó có giải pháp quan trọng là phải sắp xếp, đổi mới DNNN một cách mạnh mẽ. Các luật mới được Quốc hội thông qua và yêu cầu cải cách chức năng quản lý hành chính nhà nước về kinh tế đòi hỏi tiếp tục phải có sự đổi mới DNNN một cách cơ bản. Luật DN yêu cầu các DNNN cần nắm giữ 100% vốn phải chuyển sang hình thức công ty TNHH một thành viên trong vòng 4 năm kể từ ngày luật này có hiệu lực thi hành; đòi hỏi tách biệt chức năng thực hiện các quyền chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính nhà nước; tách biệt thực hiện quyền chủ sở hữu đối với quyền chủ động kinh doanh của DN...

3. DN Việt Nam nói chung và DNNN nói riêng được đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nước ta chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới, đòi hỏi phải cải cách DNNN và sửa đổi bổ sung cơ chế, chính sách nhằm tạo ra sự bình đẳng hơn nữa giữa các DN tư nhân và DNNN, DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài.

4. Nhận thức về sự cần thiết và hiệu quả sắp xếp, đổi mới DNNN đạt được trong thời gian qua là cơ sở quan trọng cho việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới DNNN trong thời gian tới. Trong giai đoạn này tiến hành sắp xếp DN quy mô lớn hơn, có nhiều DN hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ là yếu tố không thể thiếu được trong phát triển DN như tài chính, tín dụng, bảo hiểm, viễn thông,...

Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu

Tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, trọng tâm là CPH DNNN, tổng công ty nhà nước làm cho DNNN có quy mô lớn hơn, tập trung vốn và năng lực hiện có, huy động thêm vốn đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ. Nghiêm túc thực hiện nguyên tắc thị trường trong CPH DNNN, không để tiêu cực, thất thoát tài sản của Nhà nước; thực hiện quy định về xác định giá trị tài sản là giá trị quyền sử dụng đất của DN phù hợp quy định của Luật Ðất đai.

Thực hiện cơ cấu lại DNNN để DNNN tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, vào một số lĩnh vực công ích. Thu hẹp diện Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ đặc quyền kinh doanh. Củng cố, phát triển các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, đa sở hữu với sự tham gia của Nhà nước, tư nhân trong và ngoài nước, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư..., trong đó Nhà nước giữ cổ phần chi phối để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh, làm tốt vai trò nòng cốt trong những ngành và lĩnh vực then chốt, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Thành lập mới DNNN phải hội đủ các điều kiện và trong những lĩnh vực sản xuất, cung ứng những sản phẩm, dịch vụ thật cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội và dưới hình thức công ty cổ phần. Chỉ những DN hoạt động trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng mới thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên.

Nâng cao vai trò quản lý nhà nước, thực hiện việc thu hẹp và tiến tới xóa bỏ chức năng đại diện chủ sở hữu của các bộ, UBND các tỉnh, thành phố đối với DN có vốn nhà nước hoạt động kinh doanh.

Với những bối cảnh và yêu cầu nêu trên, phấn đấu đến cuối năm 2009 hoàn thành việc sắp xếp DNNN. Một số ít còn lại chủ yếu là DN hoạt động công ích và một số tập đoàn, tổng công ty mạnh sẽ tiếp tục CPH vào các năm tiếp theo. Phương hướng nhiệm vụ cụ thể như sau:

1. Sắp xếp, đổi mới các công ty nhà nước độc lập thuộc các bộ, địa phương:

Trên tinh thần DNNN phải có quy mô vừa và lớn, chỉ tập trung chủ yếu một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng, một số lĩnh vực công ích; cần phải CPH toàn bộ DNNN độc lập hoạt động kinh doanh và một số DN hoạt động công ích, có phân loại những lĩnh vực Nhà nước trước mắt còn giữ cổ phần chi phối. Cụ thể như sau:

a) Ðối với các DN kinh doanh:

Tổng số có 875 DN loại này. Chủ yếu đây là các DN quy mô không lớn, không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ cổ phần. Do đó, cần tiến hành CPH toàn bộ, kể cả DN hoạt động ở địa bàn khó khăn; có chính sách hỗ trợ cho DN không phân biệt thành phần kinh tế, thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng đến mua cổ phần của các DN CPH ở địa bàn này. Những DN có khó khăn về tài chính cần cơ cấu lại trước khi chuyển đổi sở hữu.

Những DN kết hợp kinh tế với quốc phòng, kinh tế với an ninh thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an hoạt động trong lĩnh vực may mặc, xây lắp, thương mại... sẽ CPH; trường hợp thật cần thiết Nhà nước mới giữ cổ phần chi phối. Có chính sách, chế độ hợp lý đối với số sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp làm việc trong các DN CPH.

Những công ty không còn vốn nhà nước thì bán, nếu không bán được thì giải thể, trường hợp không có khả năng thanh toán nợ đến hạn thì cho phá sản.

Thực hiện mạnh mẽ nguyên tắc sắp xếp DN theo ngành và lãnh thổ. Ðối với những DN quy mô nhỏ, có cùng ngành, nghề hoặc có mối quan hệ về công nghệ, thị trường ... với các DN khác thì xem xét sáp nhập, hợp nhất, không phụ thuộc vào DN do địa phương hay do Trung ương quản lý để hình thành những DN quy mô lớn hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Sau khi tổ chức lại sẽ tiến hành CPH công ty mẹ. Việc sáp nhập, hợp nhất không được làm ảnh hưởng lớn đến tình hình sản xuất, kinh doanh, tài chính của đơn vị nhận sáp nhập, hợp nhất; phải tiến hành xử lý dứt điểm các tồn tại về tài chính, lao động trước khi thực hiện phương án sáp nhập, hợp nhất. Tránh tình trạng thực hiện sáp nhập một số DNNN quản lý yếu kém, kinh doanh thua lỗ vào các DNNN đang kinh doanh có hiệu quả làm giảm sức mạnh của đơn vị tiếp nhận.

b) Ðối với DN sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích:

- Chuyển thành công ty TNHH một thành viên các DN quốc phòng, an ninh thực hiện sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, nhiệm vụ quốc phòng an ninh.

- Thực hiện CPH với lộ trình phù hợp, trước mắt Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với các DN sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích theo phương thức đặt hàng hoặc giao kế hoạch theo quy định tại Nghị định số 31/2005/NÐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích.

- CPH, Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần hoặc chỉ nắm giữ cổ phần ở mức thấp (dưới 35%) đối với các DN sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích theo phương thức đấu thầu hoặc đặt hàng theo quy định tại Nghị định nói trên.

Dự kiến CPH 135 DNNN hoạt động công ích.

c) Ðối với các nông, lâm trường:

Ðẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 28-NQ/T.Ư của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh để góp phần đẩy mạnh CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn; nâng cao hiệu quả sử dụng bền vững tài nguyên đất đai, tài nguyên rừng, vườn cây lâu năm, cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện có; hình thành các vùng sản xuất nông, lâm sản, hàng hóa tập trung, chuyên canh, thâm canh quy mô lớn gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ... Ðổi mới nông, lâm trường quốc doanh phải tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bổ lại lao động và dân cư; làm điểm tựa cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; phải gắn với đổi mới cơ chế quản lý theo hướng phân biệt rõ nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và nhiệm vụ công ích. Nông, lâm trường làm nhiệm vụ kinh doanh là chủ yếu thì phải chuyển hẳn sang sản xuất và hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, có sự hỗ trợ cần thiết và có điều kiện của Nhà nước. Những nông, lâm trường tuy đã chuyển sang kinh doanh nhưng còn phải đảm nhiệm một phần chức năng xã hội, an ninh, quốc phòng thì Nhà nước có chính sách hỗ trợ thích hợp. Tiếp tục giữ lại hoặc thành lập mới những nông trường ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số và có yêu cầu phục vụ cho định canh, định cư, an ninh, quốc phòng. Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, trên cơ sở đó, các nông, lâm trường tiếp tục giữ lại phải chuyển hoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên, số còn lại chuyển sang đơn vị sự nghiệp có thu hoặc thực hiện sáp nhập, hợp nhất, giải thể, phá sản.

2. Ðẩy mạnh sắp xếp, CPH các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước:

Cần thực hiện mạnh việc sắp xếp, CPH các tổng công ty nhà nước, coi đây là khâu đột phá trong cơ cấu lại, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN, thực hiện đổi mới quản trị công ty, cải cách hành chính, góp phần phòng và chống tham nhũng có hiệu quả.

Việc CPH các tập đoàn, tổng công ty là vấn đề mới mẻ, hệ trọng, khó khăn và phức tạp. Vì vậy, cần có quan điểm, phương pháp, bước đi phù hợp, chắc chắn, giữ vững ổn định sản xuất, không gây tác động đến môi trường đầu tư, đời sống người lao động và xã hội. Khẩn trương phân loại rõ những tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần nắm giữ 100% vốn; những tập đoàn, tổng công ty cần cổ phần hóa. Nhà nước chỉ nắm giữ 100% vốn đối với các tập đoàn, tổng công ty hoạt động có hiệu quả, được Nhà nước giao quản lý, khai thác và phân phối một bộ phận tài nguyên quốc gia, làm công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô.

Ðối với tập đoàn, tổng công ty cần cổ phần hóa, cần tiến hành theo 2 bước: trước hết, CPH hầu hết các DN thành viên. Số chưa CPH được thì chuyển thành công ty TNHH một thành viên do tập đoàn, tổng công ty giữ 100% vốn điều lệ; sau khi mô hình công ty mẹ - công ty con và nhất là công ty mẹ hoạt động ổn định thì CPH công ty mẹ. Cụ thể là:

- Bước 1: Ðẩy mạnh sắp xếp các DN thành viên tổng công ty nhà nước với hình thức chủ yếu là CPH để hình thành cơ cấu công ty mẹ - công ty con và chuyển tổng công ty sang hoạt động theo mô hình này. CPH, tổng công ty giữ cổ phần chi phối là chính những công ty có vị trí nòng cốt, có ý nghĩa lớn đối với hoạt động của tổng công ty .

Trong 5 năm, phải CPH 438 DN trong tổng số 585 DN thành viên tập đoàn, tổng công ty. Số còn lại là nông trường và DN an ninh, quốc phòng sẽ chuyển thành công ty TNHH một thành viên.

- Bước 2: Thực hiện CPH các tổng công ty - công ty mẹ.

Những tổng công ty - công ty mẹ hoạt động có hiệu quả, đủ điều kiện CPH thì tiến hành CPH ngay. Những tổng công ty - công ty mẹ hoạt động chưa hiệu quả hoặc hiệu quả thấp cần thực hiện các giải pháp lành mạnh hóa tài chính, tổ chức lại sản xuất, kinh doanh, kiện toàn bộ máy quản lý... để có thể CPH một cách hiệu quả.

Các tổng công ty nhà nước là những DN có quy mô lớn, phần lớn hoạt động có hiệu quả, tuy nhiên, một số tổng công ty kết quả sản xuất, kinh doanh còn thấp. Ðể CPH một cách hiệu quả, cần phân thành hai loại: Loại hoạt động có hiệu quả thì tiến hành CPH ngay, loại hiệu quả chưa cao thì cần làm rõ nguyên nhân để có biện pháp nâng cao hiệu quả trước khi CPH như: đầu tư, sắp xếp lại, lành mạnh hóa tình hình tài chính, đổi mới tổ chức cán bộ,...

3. CPH các ngân hàng thương mại, các công ty bảo hiểm

Trước yêu cầu về mở cửa thị trường và cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, một yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới các ngân hàng thương mại nhà nước. Trong các năm 2007-2010, cần tập trung chỉ đạo đổi mới và phát triển ngân hàng thương mại nhà nước theo các hướng sau:

Ðối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu Long, cần khẩn trương thực hiện các công việc mà Thủ tướng Chính phủ đã quyết định để hoàn thành CPH trong năm 2007.

Ðối với ba ngân hàng thương mại còn lại (Ngân hàng Ðầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam), thì thực hiện CPH theo hai bước:

+ Bước 1: nâng cao năng lực tài chính theo hướng đạt các chỉ số lành mạnh tài chính theo chuẩn quốc tế vào cuối năm 2006 đối với Ngân hàng Ðầu tư và Phát triển Việt Nam, Công thương Việt Nam và cuối năm 2007 đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

+ Bước 2: Từ năm 2007 tiến hành cổ phần hóa Ngân hàng Ðầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam; từ năm 2008 CPH Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.

Cần khẩn trương thực hiện đề án CPH Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam và hình thành Tập đoàn tài chính bảo hiểm Việt Nam mà Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt.  Ðối với Công ty Bảo hiểm Dầu khí, cần xây dựng đề án CPH, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt ngay trong đầu năm 2007 và đi vào thực hiện. Việc CPH hai công ty bảo hiểm nhà nước này phải chú trọng tới ổn định và phát triển thị trường bảo hiểm trong nước, đồng thời có biện pháp nhanh chóng vươn ra thị trường quốc tế. Cần thu hút các công ty bảo hiểm có uy tín, có thị phần lớn trên thế giới tham gia mua cổ phần để cải thiện cơ bản quản trị công ty, nâng cao uy tín và thương hiệu bảo hiểm Việt Nam trên thị trường quốc tế. Cần tiến hành rà soát để đề ra và thực hiện lộ trình CPH các công ty dịch vụ tài chính phù hợp đặc thù của loại hình DN này và yêu cầu phát triển thị trường tài chính.

Theo phương án nêu trên, từ nay đến hết năm 2010, sẽ CPH khoảng 1.500 DN. Chỉ có một số tổng công ty và số ít DN chưa CPH được sẽ thực hiện sau năm 2010.

III. Một số giải pháp chủ yếu

Giải pháp bao trùm nhất là thực hiện nhất quán các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và phát triển mạnh mẽ các loại hình DN.

Tập trung làm tốt việc định hướng, tạo môi trường thuận lợi để các DN hoạt động và phát triển theo cơ chế thị trường. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Luật DN, Luật Ðầu tư. Hỗ trợ mạnh mẽ DN nhỏ và vừa phát triển. Tiếp tục hình thành và thúc đẩy hoạt động của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty  lớn, đa sở hữu, tạo sức mạnh cho đất nước khi hội nhập kinh tế quốc tế. Thu hút ngày càng nhiều tập đoàn kinh tế lớn của nước ngoài đến đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Coi trọng phát triển DN dân doanh để tạo thêm môi trường và động lực đổi mới DNNN.

Về cụ thể cần thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp sau:

1. Tiếp tục quán triệt Nghị quyết Ðại hội IX của Ðảng, Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 9 (khóa IX) và đặc biệt, phải quán triệt sâu sắc Nghị quyết Ðại hội X về nhất quán chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, đẩy nhanh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN, trọng tâm là CPH DNNN, thu hẹp đến mức thấp nhất diện Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ đặc quyền kinh doanh của DN để tạo sự thống nhất cao hơn nữa về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN. Ðề cao ý thức chấp hành Nghị quyết của Ðảng, pháp luật, kỷ cương hành chính của Nhà nước, thực hiện nghiêm túc các quy định, chương trình, kế hoạch của Chính phủ về sắp xếp, đổi mới, CPH DNNN.

Thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi pháp luật nói chung và đặc biệt Luật DN, Luật Ðầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh... Làm cho các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ quản lý DN và người lao động, các cổ đông, người góp vốn hiểu và thực hiện đầy đủ, đúng quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình mà pháp luật quy định.

2. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, quy trình sắp xếp DNNN theo hướng đơn giản, gọn nhẹ hơn, giảm thủ tục hành chính, tạo điều kiện đẩy nhanh tiến trình sắp xếp DNNN. Ðặc biệt là, quy trình về kiểm kê tài sản, xác nhận nợ, xử lý tài chính và định giá DN. Sử dụng các dịch vụ của thị trường tài chính và thị trường bất động sản để định giá DN. Hoàn thiện các quy định liên quan đến bán đấu giá cổ phần, đa dạng hóa hình thức đấu giá để DN lựa chọn phù hợp thực tế của DN khi thực hiện đấu giá cổ phần, thực hiện các biện pháp để ngăn chặn tình trạng thông thầu trong quá trình bán đấu giá cổ phần ... Các cơ chế chính sách sửa đổi cần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong quá trình sắp xếp, CPH DNNN; tăng cường kiểm tra, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tài chính đối với công tác sắp xếp, CPH DNNN; nâng cao tính công khai, minh bạch và thị trường trong quá trình thực hiện.

3. Các bộ, địa phương, tổng công ty  91 căn cứ vào Chương trình hành động của Chính phủ và phương hướng, nhiệm vụ nêu trên xây dựng kế hoạch với lộ trình cụ thể, sắp xếp, CPH các công ty nhà nước độc lập, DN thành viên các tập đoàn, tổng công ty và CPH các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Quý I năm 2007.

Chỉ đạo để thực hiện bằng được theo đúng nội dung và tiến độ các Ðề án đã được phê duyệt. Các Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển DN hướng dẫn DN thực hiện các bước CPH, sắp xếp DNNN, sắp xếp các nông, lâm trường quốc doanh trực thuộc; các cơ quan chuyên môn có trách nhiệm phối hợp để giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện, nhất là trong xác định giá trị DN, xử lý các tồn tại về tài chính, lao động dôi dư,...

4. Ðẩy mạnh việc bán cổ phần, niêm yết và phát triển thị trường chứng khoán.

Mở rộng các hình thức bán cổ phần lần đầu thông qua các hình thức đấu giá, bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành. Thực hiện niêm yết các DNNN có đủ điều kiện trên thị trường chứng khoán, gắn việc phát hành cổ phiếu với niêm yết công khai trên thị trường. Phát triển hệ thống các tổ chức tài chính trung gian để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước tham gia đầu tư cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán.

5. Tăng cường vai trò của Tổng công ty Ðầu tư và kinh doanh vốn nhà nước trong quản lý và kinh doanh vốn nhà nước.

Các bộ, địa phương thực hiện nghiêm túc việc chuyển phần vốn nhà nước ở các DN độc lập CPH và chuyển thành công ty TNHH một thành viên (trừ các DN hoạt động công ích theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ) về Tổng công ty Ðầu tư và kinh doanh vốn nhà nước quản lý và đầu tư.

Những công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần hoặc quy mô nhỏ thì Tổng công ty Ðầu tư và kinh doanh vốn nhà nước tiếp tục bán nốt phần vốn nhà nước. Hạn chế nắm giữ phần vốn nhà nước ở các công ty độc lập quy mô vừa.

6. Tiếp tục đổi mới tổ chức quản lý, đổi mới quản trị DNNN, nâng cao trình độ và tính minh bạch trong quản trị DN; áp dụng nghiêm túc các chuẩn mực kế toán theo quy định. Tổ chức lại Hội đồng quản trị để thật sự là đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại tổng côn

Có thể bạn quan tâm