Một nhân tố quan trọng nữa là sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước đến an sinh xã hội, Luật BHXH được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2007, là cơ sở pháp lý để điều chỉnh các mối quan hệ trong thực hiện chính sách BHXH. Luật BHXH đã quy định đầy đủ quyền, trách nhiệm cơ bản các bên tham gia, các nguyên tắc hoạt động, mở rộng đối tượng tham gia, mở rộng quyền lợi của người thụ hưởng, quy định đồng bộ thống nhất hệ thống thủ tục hồ sơ tham gia và hưởng các chế độ BHXH.
Qua một năm thực hiện có thể thấy Luật BHXH đã từng bước đi vào cuộc sống, được nhân dân đón nhận và mong mỏi thực hiện tiếp các chế độ BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp; đồng thời nó tác động tích cực đến ý thức trách nhiệm của các chủ sử dụng lao động, người lao động trong việc thực hiện các chính sách BHXH và nhận thức về BHXH của các cấp chính quyền địa phương. Ðiều dễ nhận thấy là trong năm 2007 so với năm 2006: Số đơn vị sử dụng lao động đăng ký tham gia BHXH khoảng 129.500 đơn vị, tăng hơn 37%, số lao động tham gia BHXH hơn tám triệu người, tăng 20,7%.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài có chuyển biến mạnh mẽ nhất, số lao động tham gia BHXH của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 25,7%, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác tăng 34,4%, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,3%.
Qua đó, số thu BHXH của toàn ngành tăng lên đáng kể và vượt 3,8% so với kế hoạch. Các chế tài xử phạt hành vi vi phạm các quy định của Luật BHXH đã dần phát huy tác dụng cùng với việc thực hiện thường xuyên, quyết liệt các biện pháp truy thu tiền đóng BHXH. Tình trạng chây ỳ, chậm nộp BHXH đã giảm nhiều.
Năm 2006 số nợ và chậm nộp BHXH bình quân 0,7 tháng lương thì năm 2007 chỉ còn 0,45 tháng lương, có hơn 50 địa phương số nợ và chậm nộp BHXH chỉ còn từ 0,1-0,3 tháng lương.
Việc quy định rõ ràng, cụ thể về thủ tục hồ sơ, bảo đảm việc giải quyết chế độ chính sách cho người lao động nhanh gọn và hoàn thành một khối lượng rất lớn: Hơn 12 vạn người hưởng chế độ hằng tháng (gồm chế độ hưu trí, chế độ tuất, chế độ tai nạn lao động), hơn 20 vạn người hưởng trợ cấp BHXH một lần, trợ cấp ốm đau thai sản cho hơn 230 vạn lượt người và gần 75 vạn lượt người nghỉ dưỡng sức. Công tác quản lý tài chính cũng đạt được kết quả cao, nếu như những năm trước năm 2005 bình quân thu chi tính trên mỗi cán bộ công chức ngành BHXH là 1,8 tỷ đồng thì đến năm 2007 là 4,8 tỷ đồng và hầu như không để xảy ra thất thoát.
Có được những kết quả trên còn phải kể đến sự nỗ lực vươn lên của cán bộ công chức ngành BHXH, sự chỉ đạo sát sao của lãnh đạo BHXH Việt Nam. Ngay khi có Thông tư số 03/2007/TT-BLÐTBXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã khẩn trương tập huấn phổ biến và hướng dẫn trong toàn ngành thực hiện các chế độ BHXH theo quy định của luật, Nghị định và Thông tư. Ðể bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quy định của Luật BHXH, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã nghiên cứu ban hành các văn bản Quy định về quản lý thu BHXH, BHYT bắt buộc, Quy định về hồ sơ và quy trình giải quyết hưởng các chế độ BHXH đối với người lao động tham gia BHXH bắt buộc, Quy định về quản lý, chi trả các chế độ BHXH bắt buộc, Quy định giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Các quy định bảo đảm đúng luật định, đồng thời còn thực hiện cải cách hành chính, giảm tối đa các giấy tờ không cần thiết, tạo thuận lợi nhất cho người sử dụng lao động, người lao động, thân nhân người lao động trong việc thu nộp BHXH, giải quyết các chế độ BHXH; phân cấp một bước cho BHXH cấp huyện trong việc tiếp nhận hồ sơ giải quyết chế độ BHXH và trả hồ sơ đã được giải quyết cho các đơn vị sử dụng lao động, người lao động trên địa bàn quản lý. Ðến cuối quý 1 năm 2007 các mặt hoạt động nghiệp vụ của BHXH Việt Nam đã diễn ra bình thường ở tất cả 64 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Tác dụng của Luật BHXH và việc tổ chức thực hiện đã đem lại một kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên trong thực tiễn tổ chức thực hiện Luật BHXH vẫn còn một số vấn đề cần phải xem xét:
- Về mở rộng đối tượng tham gia BHXH: Ðối tượng tham gia BHXH đã được quy định rõ trong Luật BHXH và các văn bản dưới luật nhưng vẫn còn nhiều đơn vị chưa tự giác tham gia BHXH cho người lao động. Tình trạng này còn phổ biến ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và kinh tế hợp tác xã. Nguyên nhân là do mức phạt quy định còn quá nhẹ, tối đa là 20 triệu đồng, cơ chế phối hợp để có thể xử phạt phức tạp, kéo dài, nhưng thực tế rất ít khi thực hiện được. Lao động ở khu vực này biến động thường xuyên liên tục, không thực hiện giao kết hợp đồng lao động, tiền lương vẫn còn diễn ra nên việc quản lý lao động rất khó khăn, việc khai thác thu BHXH lại càng khó khăn hơn.
- Việc giải quyết chế độ chính sách cho người lao động: Luật BHXH có hiệu lực thi hành từ 1-1-2007 nhưng các văn bản hướng dẫn chậm và chưa rõ ràng dẫn đến sự lúng túng, cứng nhắc trong việc tiếp nhận và giải quyết chế độ chính sách cho người lao động ở một số BHXH tỉnh. Trong quá trình giải quyết chế độ cho người lao động còn có những nội dung vướng mắc như: Quy định người về hưu không được hưởng trợ cấp khu vực, mức chi trả trợ cấp BHXH một lần của người lao động nghỉ việc, hay người chết đã cao hơn 1,5 lần so với trước đây; chế độ này vừa gây ra sự mất tương quan trong chính sách vừa có tình trạng đóng ít hưởng nhiều là nguyên nhân gây mất cân đối quỹ. Bên cạnh đó còn có một số nội dung chưa được hướng dẫn thí dụ như: Trường hợp người lao động nghỉ việc đi khám, chữa bệnh tại nước ngoài; hạng doanh nghiệp làm căn cứ để tính hưởng BHXH đối với doanh nghiệp Nhà nước đã chuyển thành công ty cổ phần; công ty TNHH.