Trong giai đoạn 2011-2015, công tác giảm TTĐN có nhiều khó khăn, nhất là do nguồn điện chưa được cân bằng trong các miền, lưới điện đầu tư còn hạn chế, tiếp nhận lưới điện hạ áp nông thôn với khối lượng lớn… dẫn đến việc đưa chỉ tiêu TTĐN giảm xuống dưới mức 8% là hết sức khó khăn. Năm 2011, tỷ lệ TTĐN của EVN là 9,23% thì năm 2015, tỷ lệ này đã giảm xuống còn 7,94%.
Mặc dù lưới điện 500/220 kV được đầu tư hiện đại, nhưng lượng điện tổn thất trên lưới vẫn cao hơn yêu cầu của EVN (2%). Nguyên nhân chủ yếu là do lưới điện chưa có dự phòng, trong khi các nguồn điện tại chỗ không đáp ứng được nhu cầu sử dụng điện liên tục tăng cao tại các tỉnh, thành phố khu vực phía nam. Nhất là vào cao điểm mùa nắng nóng, hệ thống điện 500 kV phải truyền tải công suất cao từ miền bắc, miền trung vào miền nam. Để đáp ứng yêu cầu đó, ngành điện đã phải tăng khả năng tải thông qua việc sử dụng dây dẫn siêu nhiệt, nâng dung lượng tụ bù dọc, kháng bù ngang tại các trạm biến áp (TBA), hệ thống đấu nối...
Phó trưởng Ban Kỹ thuật, Sản xuất EVN Lê Việt Hùng cho biết, để khắc phục những khó khăn này, EVN đã đưa ra nhiều giải pháp. Theo đó, cùng với bảo đảm đầu tư hệ thống nguồn và lưới điện theo đúng Quy hoạch điện bảy hiệu chỉnh thì công tác quản lý phải chặt chẽ để giảm tổn thất từng khu vực. Theo GS, TS Trần Đình Long, Phó Chủ tịch Hội Điện lực Việt Nam, để giải quyết việc hệ thống lưới điện vẫn đang phải chạy theo phụ tải, nhất là những phụ tải ở khu vực phía nam thì ngành điện cần đồng thời phải giải quyết bài toán liên quan đến cơ chế, chính sách, quy hoạch và cách thức vận hành.
Quy hoạch nguồn và lưới truyền tải hợp lý, cân bằng năng lượng theo vùng, tránh truyền tải công suất lớn đi xa. Lựa chọn thông số thiết kế và trang thiết bị hợp lý (tiết diện dây dẫn, chủng loại, công suất, máy biến áp (MBA)...); thiết kế cấu trúc, sơ đồ lưới điện hợp lý; xác định lộ trình đầu tư theo kịp phát triển phụ tải. Tổ chức hệ thống đo đếm chặt chẽ, hạn chế tổn thất thương mại.
Theo Ban Kỹ thuật, Sản xuất EVN, Tập đoàn đã đề ra một loạt giải pháp đồng bộ để giảm TTĐN. Theo đó, đối với giải pháp về quản lý kỹ thuật, vận hành: Trung tâm Điều độ hệ thống điện quốc gia (NLDC), các điều độ miền, các điều độ HTĐ miền, điều độ các công ty điện lực tỉnh, thành phố thường xuyên cập nhật thông tin nguồn, lưới, phụ tải để thực hiện phương thức vận hành tối ưu giảm TTĐN; quy định biểu đồ điện áp vận hành tối ưu hằng ngày cho các TBA, thực hiện theo dõi, quản lý việc tuân thủ biểu đồ điện áp để duy trì điện áp tối ưu trong hệ thống điện. Các đơn vị vận hành tăng cường theo dõi, dự báo phụ tải, chủ động phối hợp các cấp điều độ không để quá tải MBA, dây dẫn, thiết bị lưới điện...
Một trong những giải pháp tích cực nhất để giảm TTĐN trong những năm tới của EVN là hoàn thành mục tiêu đầu tư phát triển nguồn, lưới điện giai đoạn 2016-2020. Trong giai đoạn này, EVN đầu tư 24 tổ máy thuộc 13 dự án nguồn điện với tổng công suất 6.989MW; bảo đảm tiến độ các dự án nguồn điện trọng điểm và nguồn điện cấp bách cho khu vực miền nam, như: Nhiệt điện Duyên Hải 3 (1.244 MW); Nhiệt điện Duyên Hải 3 mở rộng (660 MW); Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 (1.200 MW); Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 mở rộng (600 MW)... Cùng với các nguồn điện được đầu tư của các đơn vị khác bảo đảm đáp ứng công suất và sản lượng cấp cho phụ tải. Việc bảo đảm tiến độ nguồn điện giúp cân bằng sản lượng, công suất các miền để giảm truyền tải điện xa làm tăng TTĐN. Các đơn vị ngành điện cũng thực hiện đầu tư các công trình nâng cao năng lực hệ thống điện truyền tải, đấu nối và giải tỏa công suất các nguồn điện…
Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực miền bắc (EVNNPC) Hồ Mạnh Tuấn cho biết, Tổng công ty đang vận hành nhiều hệ thống lưới điện áp 6/10/15kV được đầu tư từ hàng chục năm qua, đến nay đã xuống cấp, việc vận hành phân phối điện không còn hiệu quả. Đến hết năm 2015, tỷ lệ lưới điện 6/10/15kV vẫn còn chiếm 15% toàn bộ lưới trung áp nhưng lại chiếm tới 26% tỷ lệ TTĐN của Tổng công ty. Vì vậy, EVNNPC đã có chủ trương đến năm 2018 sẽ hoàn thành nâng cấp toàn bộ hệ thống lưới điện này lên cấp 22 kV và 35 kV để bảo đảm hiệu quả sản xuất, góp phần quan trọng giảm TTĐN.
Theo Phó Giám đốc Công ty Điện lực Bắc Ninh Vũ Anh Tài, bảy tháng qua, tỷ lệ TTĐN của công ty đã giảm xuống còn 6,05%, giảm 0,2% so cùng kỳ năm trước. Dự kiến cả năm, con số này sẽ vào khoảng 4,1%, giảm 0,32% so năm 2015 và 0,1% so kế hoạch EVNNPC giao. Để đạt được kết quả này, công ty đã xây dựng phương thức kết dây cơ bản lưới điện trung thế sau TBA 110kV bảo đảm TTĐN thấp nhất, thao tác linh hoạt trong điều hành sự cố; đóng điện và san tải 79 TBA, từ nay đến cuối năm đóng 14 TBA còn lại.
Thực hiện hoán đổi các MBA quá tải, non tải. Thực hiện phương án cân pha, san tải đối với 145 TBA bị lệch pha, quá tải đường dây và MBA. Nhờ đó, tỷ lệ TTĐN của các TBA sau cân pha đã giảm từ 0,3% đến 1%. Công ty cũng sử dụng chương trình PSS/ADEPT để tính toán dung lượng, vị trí lắp tụ bù tối ưu, trên cơ sở đó lập phương án thực hiện. Qua theo dõi đánh giá việc lắp đặt tụ bù hạ thế làm giảm khoảng 0,7% đến 1% so trước khi lắp.
Với những giải pháp đồng bộ nói trên của ngành điện, mục tiêu giảm tỷ lệ TTĐN xuống còn 7,94% năm 2016 là hoàn toàn khả thi và EVN đang nỗ lực để con số này giảm xuống còn 6,5% vào năm 2020.
Nhằm giảm TTĐN thương mại, năm 2015, EVN đã kiểm tra và phát hiện 5.814 vụ vi phạm, truy thu 18,678 triệu kW giờ điện. Sáu tháng đầu năm 2016, EVN đã kiểm tra 1.625.199 trường hợp, phát hiện 2.479 vụ vi phạm, truy thu 8,416 triệu kW giờ.