Trả lời: Ngày 17-4-2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 38/2006/NÐ-CP về Bảo vệ dân phố. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo (ngày đăng công báo là 30-4-2006). Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bảo vệ dân phố như sau:
Nhiệm vụ của Bảo vệ dân phố:
1- Nắm tình hình an ninh, trật tự, phát hiện các vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, các vụ vi phạm hành chính, vi phạm trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường; phản ánh cho cơ quan công an và UBND phường có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn; tham gia hòa giải, giải quyết kịp thời không để những hậu quả xấu xảy ra.
2- Phổ biến, tuyên truyền nâng cao cảnh giác, ý thức phòng ngừa tội phạm, tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự nhằm vận động nhân dân trong phường tự giác chấp hành các chủ trương, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước, các quy tắc, quy ước, nội quy về bảo vệ an ninh, trật tự; tham gia xây dựng phường, cụm dân cư, hộ gia đình an toàn về an ninh, trật tự, không có tội phạm, tệ nạn xã hội.
3- Ðôn đốc, nhắc nhở nhân dân trong phường chấp hành các quy định của pháp luật về đăng ký, quản lý nhân khẩu, hộ khẩu; sử dụng, quản lý chứng minh nhân dân và giấy tờ tùy thân khác; quy định về đăng ký hoạt động ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự; quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; tham gia giữ gìn trật tự công cộng, trật tự an toàn giao thông, an toàn phòng cháy, chữa cháy.
4- Vận động nhân dân tham gia cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ và quản lý những người đã chấp hành xong hình phạt tù, chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trung tâm cai nghiện, người chưa thành niên phạm tội, người đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Phối hợp các cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, giúp đỡ những đối tượng đang trong diện quản lý, giáo dục tại phường. Vận động thuyết phục người thân của các đối tượng đang bị truy nã, trốn thi hành án, đối tượng phạm tội đang lẩn trốn để tác động họ ra đầu thú.
5- Khi có vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự xảy ra trong địa bàn, phải kịp thời có mặt và tìm mọi cách báo ngay cho công an phường; bảo vệ hiện trường, tham gia sơ cứu người bị nạn, giải cứu con tin, bắt, giữ người phạm tội quả tang, tham gia chữa cháy, cứu tài sản và thực hiện các công việc khác theo sự phân công, hướng dẫn của UBND và công an phường.
6- Phối hợp lực lượng dân phòng và bảo vệ chuyên trách các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đóng trên địa bàn để bảo vệ an ninh, trật tự theo chỉ đạo của UBND và công an phường. Tổ chức tuần tra kiểm soát và tham gia các hoạt động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội và các vi phạm khác về trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật.
Quyền hạn của Bảo vệ dân phố:
1- Bắt, tước hung khí và áp giải người phạm tội quả tang, người đang bị truy nã, trốn thi hành án phạt tù đến trụ sở công an phường theo quy định của pháp luật.
2- Yêu cầu chấm dứt ngay hành vi vi phạm và báo cáo với UBND, Công an phường để có biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật đối với những người đang có hành vi vi phạm trật tự công cộng, trật tự xây dựng, trật tự an toàn giao thông, các vi phạm quy định an toàn cháy nổ và những người vi phạm các quy định khác về trật tự, an toàn xã hội.
3- Tham gia với lực lượng công an hoặc lực lượng chức năng để truy bắt người phạm tội, người đang bị truy nã, trốn thi hành án; kiểm tra tạm trú, tạm vắng; kiểm tra giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân khác của những người tạm trú, người có nghi vấn đến địa bàn khu phố được phân công phụ trách.
--------------------
Đối tượng không phải nộp tiền sử dụng đất
Hỏi: Theo quy định hiện hành, những đối tượng nào không phải nộp tiền sử dụng đất?
Trả lời: Tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 3-12-2004 của Chính phủ quy định đối tượng không phải nộp tiền sử dụng đất:
1 - Người được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất theo quy định tại Điều 35 Luật Đất đai 2003.
2 - Người được Nhà nước cho thuê đất và phải nộp tiền thuế đất theo quy định tại Điều 35 Luật Đất đai.
3 - Người sử dụng đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung trong khu công nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
4 - Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất, khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong các trường hợp sau đây:
a) Đất đã sử dụng ổn định, được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 50 Luật Đất đai 2003.
b) Hộ gia đình, cá nhân được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất ở trước ngày 15-10-1993 theo quy định của pháp luật về đất đai.
5 - Hộ gia đình, cá nhân sử dụng diện tích đất ở đối với trường hợp có vườn, ao khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 87 Luật Đất đai 2003 và được quy định tại Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
6 - Tổ chức kinh tế góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của người sử dụng đất hợp pháp bằng tiền không có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước, nay được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
--------------------
Đi lấy chồng có còn quyền thừa kế?
Hỏi: "Cha mẹ tôi mất năm 199S để lại tài sản là một thửa đất gần 1.000m2 nhưng không có di chúc cho ai cả. Vì tôi đi công tác và lấy chồng ở xa nên mới đây tôi mới được biết anh trai tôi đã tự ý đứng tên mình là người có quyền sử dụng, năm ngoái đã bán đi một phần thửa đất đó. Tôi đã hỏi anh trai tôi về việc chia thừa kế nhưng anh ấy không đồng ý mà nói là cô đã đi lấy chồng rồi thì không có quyền gì nữa. Đề nghị báo cho biết tôi có được quyền thừa kế đối với thửa đất mà cha mẹ tôi để lại không? Nếu được thì tôi phải làm những thủ tục gì theo quy định của pháp luật?".
Trả lời: Theo khoản 1 Điều 675 Bộ luật Dân sự về những trường hợp thừa kế theo pháp luật thì: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây: Không có di chúc; di chúc không hợp pháp; những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế; những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.
Theo quy định tại các điểm a và b khoản 1, khoản 2 Điều 676 Bộ luật Dân sự về người thừa kế theo pháp luật, thì: Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất, gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
Như vậy, theo các quy định trên đây thì trường hợp của chị được hưởng thừa kế và di sản sẽ được chia theo pháp luật vì bố mẹ chị trước khi chết không để lại di chúc. Để được hưởng thừa kế, nếu chị và anh trai mình không thể thỏa thuận được thì chị cần làm đơn khởi kiện và gửi đến TAND cấp huyện nơi có di sản thừa kế để được giải quyết theo quy định của pháp luật. Cần lưu ý đối với chị là thời hiệu để thực hiện quyền khởi kiện chia thừa kế theo quy định của pháp luật là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế, ngoài ra chị cần tìm hiểu thêm hướng dẫn của ngành Tòa án về vấn đề này để thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
--------------------
Một số vấn đề về nhà, đất ở tại các khu tập thể
Hỏi: Gia đình tôi sống ổn định hàng chục năm nay trong một căn nhà thuộc khu tập thể tại số 79 phố Lý Nam Đế. Căn nhà này do Ban công tác miền Tây trước đây quản lý. Do thời gian và mưa nắng, căn nhà này bị xuống cấp nghiêm trọng nên tôi đã dỡ bỏ nhà cũ, xây dựng nhà mới thay thế. Theo tôi biết, trong KTT 79 Lý Nam Đế và một số khu tập thể khác trên địa bàn thành phố, nhiều hộ gia đình cũng có nhà ở giống trường hợp nhà ở của gia đình tôi. Vậy đề nghị quý báo cho biết, nhà ở trong trường hợp trên có được xác định là nhà thuộc sở hữu tư nhân không? Khi Nhà nước cấp “Sổ đỏ” có thuộc diện không thu tiền sử dụng đất không?
Trả lời: Việc ông Phạm Quý hỏi, chúng tôi đã trao đổi với Sở Tài nguyên, Môi trường và Nhà đất Hà Nội, Sở đã có văn bản trả lời, nội dung như sau:
Căn cứ các chính sách hiện hành gồm Quyết định số 33/TTg ngày 5-2-1993 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 61/CP ngày 5-7-1994 của Chính phủ (NĐ 61), Thông tư số 01/BXD-QLN ngày 4-3-1996 của Bộ Xây dựng, Chỉ thị số 43/2004/CT-TTg ngày 3-12-2004 của Thủ tướng Chính phủ, công văn số 1628/TC-QLCS ngày 19-4-2005 của Bộ Tài chính, nhà ở do các cơ quan tự quản được hình thành trước ngày 15-10-1993 mà nhà đó đã được thanh lý, hóa giá hoặc do các hộ gia đình, cá nhân tự xây dựng, cải tạo, cơi nới đã được cơ quan, đơn vị quyết định phân phối cho các hộ gia đình, cá nhân này trước ngày NĐ 61 có hiệu lực thi hành (ngày 20-7-1994) phải bảo đảm đủ các điều kiện sau mới là nhà ở thuộc sở hữu của các gia đình, cá nhân:
- Có hồ sơ, chứng từ chứng minh cụ thể việc thanh lý, hóa giá hoặc có quyết định phân phối nhà gắn liền với đất ở, trong hồ sơ đó phải khẳng định quyền sở hữu của hộ gia đình, cá nhân và người mua nhà đã nộp đủ tiền theo quy định tại thời điểm bán, phân phối. Nếu không có hồ sơ hoặc hồ sơ không chứng minh được các yêu cầu này thì nhà đó vẫn là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước.
- Trường hợp vẫn còn hợp đồng thuê nhà của Nhà nước hoặc nhà do cơ quan tự quản phân phối cho hộ gia đình, cá nhân để ở mà chưa thực hiện các thủ tục khi thanh lý, hóa giá, phân phối, không có hồ sơ chứng minh là nhà ở thuộc sở hữu của hộ gia đình, cá nhân thì nhà ở đó là nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước.
- Hồ sơ đã được UBND phường xác nhận đất không có tranh chấp nhưng vẫn phải được xác nhận là đất chưa giao cho các cơ quan, đơn vị của Nhà nước quản lý, đất không do Nhà nước quản lý thì mới xác định là đất, nhà thuộc quyền quản lý, sở hữu của cá nhân.
Nhà có nguồn gốc do cơ quan tự quản không đủ một trong các điều kiện trên hoặc nhà do các Công ty kinh doanh nhà quản lý thì thực hiện thu tiền sử dụng đất theo quy định về bán nhà theo NĐ 61.
Căn cứ quy định trên và hồ sơ nhà đất hiện có của ông Phạm Quý đã nộp tại XN Kinh doanh nhà Hoàn Kiếm (nay là XN Quản lý và phát triển nhà số 3 - Công ty Quản lý và phát triển nhà Hà Nội) vì gia đình ông Phạm Quý không có tài liệu chứng minh đã mua nhà hóa giá nên nhà, đất ông đang sử dụng (kể cả nhà đã được gia đình phá đi xây dựng lại) thuộc quyền quản lý của Sở TN, MT& NĐ HN để cho thuê, hoặc bán theo NĐ 61. Khu tập thể 79 Lý Nam Đế hiện do cơ quan Nhà nước quản lý (trước đây do Ban công tác miền Tây quản lý, nay do Ban Đối ngoại TƯ quản lý) nên không thuộc diện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở không thu tiền sử dụng đất.
Việc xác định giá nhà, đất được áp dụng theo công văn số 1388/TTg-CN ngày 16-9-2005 của Thủ tướng Chính phủ (cho phép bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước theo NĐ 61 của Chính phủ theo giá và các chính sách được ban hành trước ngày 1-1-2005 đến hết ngày 31-12-2006); công văn số 4130/UB-NNĐC ngày 21-9-2005 và thông báo số 280/TB-UB ngày 11-10-2005 của UBND thành phố Hà Nội (chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ bán nhà theo Nghị định 61/CP theo giá bán nhà từ sau ngày 1-7-2004).