Nhà nước mở đường, doanh nghiệp tiến bước

Hỏi: Thưa Bộ trưởng, năng lực cạnh tranh của Việt Nam cũng như của các doanh nghiệp Việt Nam trên bản đồ khu vực và thế giới ra sao?

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển: ASEAN chia làm hai nhóm nước, nhóm đầu gồm sáu nước ASEAN cũ là Thái-lan, Singapore, Malaysia, Philippines, Brunei, Indonesia. Nhóm còn lại kém phát triển hơn, gồm bốn nước: Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar. Trong đánh giá về tính cạnh tranh của nền kinh tế thì ASEAN cũng phân ra làm hai nhóm nước, trong đó nhóm phát triển, có tính cạnh tranh cao là Singapore, Malaysia, Thái-lan và nhóm nước còn lại ở mức thấp hơn. Trong các nước thấp thì Việt Nam đứng ở vị trí cao. Điều đó chứng tỏ, cùng với sự nghiệp đổi mới, chúng ta đã tạo ra được nhiều tiền đề nhiều điều kiện để cải thiện sức cạnh tranh, tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang ở nhóm nước có sức cạnh tranh thấp trên thế giới. Trong hơn 100 nước được khảo sát thì Việt Nam đứng thứ 60. Điều này đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hết mình để cải thiện hơn nữa sức cạnh tranh.

Hỏi: Việc cải thiện sức cạnh tranh sẽ được tiến hành như thế nào thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển: Theo tôi, trước hết chúng ta phải hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô, tạo ra môi trường cạnh tranh cho các doanh nghiệp (DN). Với công việc này, vai trò của Nhà nước rất quan trọng. Tiếp đó là phải đẩy mạnh phát triển thị trường dịch vụ và tạo ra một cơ sở hạ tầng tốt hơn cho hoạt động kinh doanh của DN. Nếu cảng kém, sân bay kém, đường giao thông kém thì sẽ tăng chi phí của DN lên. Điều quan trọng nữa là hết sức coi trọng phát triển nguồn nhân lực. Đây là yếu tố không thể xem thường, tạo được nguồn nhân lực có kỹ năng cao thì sẽ góp phần làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Hỏi: Là một quan chức Chính phủ trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, nếu được giới thiệu với các bạn hàng nước ngoài thì Bộ trưởng sẽ giới thiệu những sản phẩm gì của Việt Nam?

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển: Tôi vui mừng nhận thấy rằng, trong những năm đổi mới, cùng với quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường, các DN Việt Nam đã nỗ lực vươn lên. Nhiều ngành hàng, nhiều sản phẩm đã có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Có thể nhắc tới trước tiên là thủy sản, do bảo đảm được chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm nên có uy tín rất cao ở các thị trường châu Âu và Mỹ. Hàng may mặc của Việt Nam cũng là những sản phẩm có chất lượng, được các nhà nhập khẩu nước ngoài quan tâm.

Các sản phẩm khác cũng đang phát triển nhanh là gỗ và đồ trang trí nội thất. Thậm chí, những sản phẩm đòi hỏi quy trình sản xuất công nghệ cao hơn, như linh kiện điện tử cũng đã được đánh giá cao. Tuy nhiên, để phát triển hơn nữa sản phẩm này thì các DN phải vươn lên mạnh mẽ, quy trình sản xuất và công nghệ cần được quản lý tốt hơn để có thể xâm nhập sâu vào thị trường thế giới.

Ngoài ra, còn có những sản phẩm khác được hình thành trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, như dây điện, cáp điện, nhựa... Chính vì chúng ta đã hình thành được những sản phẩm mới, có chất lượng cao nên kim ngạch xuất khẩu trong năm 2004 này có thể đạt hơn 25 tỷ USD.

Hỏi: Với tiềm năng to lớn của các nước ASEAN như vậy, khả năng tăng cường các mối quan hệ nội khối trong thời gian tới ra sao, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển: Việc hình thành khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đã khiến cho buôn bán nội khối tăng, nhưng tốc độ tăng lại không tương xứng với tốc độ giảm thuế. Thuế tuy rất quan trọng, nhưng không phải là tất cả, chúng ta cũng cần quan tâm đến những yếu tố khác, những biện pháp phi thuế, như hài hòa về tiêu chuẩn hàng hóa, khả năng liên kết giữa các DN trong một thị trường có tính liên kết cao. Trên cơ sở khảo sát tiềm năng cạnh tranh, hội nhập trong ASEAN, các Bộ trưởng kinh tế ASEAN đã trình lên các nhà lãnh đạo việc đẩy nhanh tiến độ hội nhập của 11 lĩnh vực ưu tiên với những biện pháp không chỉ là thuế.

Hỏi: Chỉ còn ba tháng nữa là đến năm 2005, liệu Việt Nam có đạt được đích gia nhập WTO vào năm này không, thưa Bộ trưởng?

Bộ trưởng Trương Đình Tuyển: Nếu cho rằng, để được gia nhập WTO vào năm 2005 thì phải kết thúc đàm phán với các nước vào cuối năm 2004 thì khả năng này là rất ít. Nhưng nếu chúng ta kết thúc đàm phán trong năm 2005, để muộn nhất là tháng 12 năm 2005, tại Hội nghị các Bộ trưởng WTO tổ chức tại Hồng Công chúng ta được kết nạp thì tôi cho là có khả năng. Tuy nhiên, quan trọng là chúng ta có biết tận dụng khả năng hay không. Quyết tâm của Đảng và Chính phủ Việt Nam là sớm gia nhập WTO, nhưng việc gia nhập WTO không chỉ là cuộc đàm phán với nước ngoài, mà còn là cuộc đàm phán trong nội bộ để tìm ra một ngưỡng hợp lý, để có thể thực hiện bảo hộ theo phương châm bảo hộ có chọn lọc có điều kiện, có thời gian và bảo hộ để DN tự nguyện vươn lên, chứ không phải càng ngày càng kém. Nếu tìm được ngưỡng theo tinh thần đó và được các nước chấp nhận thì chúng ta hoàn toàn có thể kết thúc đàm phán vào năm 2005 và có thể được chấp thuận gia nhập WTO trong Hội nghị các Bộ trưởng WTO tại Hồng Công.

Có thể bạn quan tâm