Người mang kỹ thuật sinh sản vô tính về trình diễn tại Việt Nam

“Giá Việt Nam cũng có một phòng thí nghiệm bằng một nửa thế này…”.
“Giá Việt Nam cũng có một phòng thí nghiệm bằng một nửa thế này…”.

Ba lần tổ chức hội nghị, hai lần diễn ra ở Việt Nam

Làm việc tại Phòng nghiên cứu tái biệt hóa gene (Genomic Reprogramming) thuộc Trung tâm Công nghệ Sinh học và phát triển, Viện Lý hóa Nhật Bản (RIKEN-CDB) từ năm 2002, năm nào TS Nguyễn Văn Thuận cũng về nước giảng dạy cho SV cao học chuyên ngành Công nghệ sinh học ở Đại học Nông lâm và ĐH Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh.

Ban đầu, chỉ vì muốn SV của mình có cơ hội trao đổi kinh nghiệm với các nhà khoa học và sinh viên của các nước châu Á, năm 2004, anh đã kêu gọi và tập hợp các nhà khoa học cùng chuyên ngành để hình thành hiệp hội Công nghệ sinh học sinh sản các nước châu Á (Asian Reproductive Biotechnology Society, viết tắt là ARBS). Và anh đã được bầu làm Chủ tịch điều hành. Hội nghị lần đầu tiên của tổ chức này đã diễn ra tại Đại học Nông lâm, TP Hồ Chí Minh, nơi anh công tác trước đây, vào tháng 4-2004. Hội nghị lần 2 được tổ chức tại Thái-lan vào tháng 11-2005. Năm nay, Hội nghị lần 3 được tổ chức tại Hà Nội.

Chỉ trong lần Hội nghị thường niên lần 2 tại Băng-cốc, tạp chí Nature đã nhận định ARBS đã quy tụ được những nhà khoa học giỏi và có tiếng trên thế giới về chuyên ngành sinh học sinh sản. TS Thuận cho biết: “Thành lập Hiệp hội và tổ chức Hội nghị thường niên, mục đích đầu tiên của tôi là cho những sinh viên của tôi ở Việt Nam, nhưng kết quả đã thành công nhiều hơn dự tính ban đầu”. 

Anh Thuận cho biết, trong Hội nghị lần 2 tại Thái-lan, các nhà khoa học Hàn Quốc rất muốn đăng cai hội nghị lần 3 này, nhưng với tư cách là Chủ tịch điều hành Hiệp hội, anh đã quyết định tổ chức Hội nghị tại Hà Nội ngay sau khi diễn ra sự kiện APEC.

 
TS Thuận (bên trái) trong Hội nghị lần 2 tại Thái-lan.

“Cũng có một vài ý kiến phản đối vì Việt Nam đã tổ chức Hội nghị lần 1, nhưng tôi đã nhận được sự ủng hộ của các thành viên chủ chốt trong hội đồng khoa học của Hiệp hội”, anh tâm sự. Theo quan điểm của anh, Hội nghị được tổ chức ở Việt Nam và những nước gần Việt Nam như Thái-lan sẽ giúp cho càng nhiều nhà khoa học Việt Nam, đặc biệt là các bạn nghiên cứu trẻ và sinh viên tham gia trao đổi học thuật với các nhà khoa học trong khu vực.

“Năm nay tôi cũng đã kiếm được một ít tiền để thuê một chuyến xe cho các bạn sinh viên và giảng viên trẻ của bốn trường đại học phía nam cùng ra Hà Nội tham gia hội nghị”, anh nói. Đó là Đại học An Giang, Đại học Cần Thơ, Đại học Khoa học tự nhiên TP Hồ Chí Minh và Đại Học Nông lâm TP Hồ Chí Minh.

Hội nghị Công nghệ Sinh học sinh sản lần thứ ba diễn ra tại khách sạn Horison, Hà Nội từ 29-11 đến 1-12, sẽ có khoảng 70 nhà khoa học tham gia báo cáo. Tổng cộng, có gần 100 đại biểu nước ngoài và 100 đại biểu Việt Nam. Được biết, trong Hội nghị lần thứ hai tại Thái-lan, có khoảng 50 nhà khoa học thuộc năm quốc gia và vùng lãnh thổ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Trung Quốc tham dự.

Tại Hội nghị, giới chuyên môn sẽ trao đổi thông tin về những thành tựu mới nhất liên quan đến tế bào gốc, sinh sản vô tính (cloning), thụ tinh bằng kính hiển vi, phát triển tế bào trứng và phôi trong ống nghiệm.

Sẽ có nhiều báo cáo của những nhà nghiên cứu châu Á nổi tiếng trong chuyên ngành này được trình bày tại Hội nghị, như: TS. Jerry Yang (Center for Regenerative Biology, University of Connecticut, Mỹ). Dr. Teruhiko Wakayama (RIKEN-CDB), Dr. Astuo Ogura (RIKEN-Stukuba), và nhiều nhà khoa học trẻ của Hàn Quốc và Trung Quốc.

Đặc biệt, tại Hội nghị này, các nhà khoa học còn tổ chức trình diễn kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và kỹ thuật chuyển cấy nhân trong sinh sản vô tính. Buổi trình diễn này được sự trợ giúp máy móc của Công Ty OLYPUS Nhật Bản. TS Nguyễn Văn Thuận và TS Wakayama cùng tham gia trình diễn kỹ thuật ICSI (Intracytoplasmic sperm injection - tiêm tinh trùng vào bào tương noãn) và chuyển cấy nhân.

Người nước ngoài đầu tiên được làm việc tại CDB

Có uy tín trong giới sinh học sinh sản ở châu Á và trên thế giới, điều này thật không dễ dàng đối với một nhà nghiên cứu từ một đất nước có nền công nghệ sinh học còn lạc hậu như Việt Nam.

TS Thuận kể, năm 1996, anh sang Nhật Bản học thạc sĩ rồi tiến sĩ về chuyên ngành công nghệ sinh học ứng dụng. Năm 2000, trong một lần tham gia báo cáo tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về sinh sản vô tính tại Stukuba, Nhật Bản, anh đã gặp một nhà khoa học trẻ Nhật Bản rất nổi tiếng về sinh sản vô tính đó là TS. Teruhiko Wakayama. Lúc đó, TS Wakayama đang nghiên cứu tại Viện Kỹ thuật tế bào tại Mỹ. Tiến sĩ Wakayama là người đầu tiên trên thế giới tạo thành công chuột vô tính vào năm 1998 trong thời gian nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Hawaii. Năm 2002, TS Wakayama đã trở về Nhật Bản theo lời mời của chính phủ Nhật Bản để tham gia nghiên cứu tại viện Công nghệ sinh học phát triển (Center for Developmental Biology, CDB), thuộc Viện Lý hóa Nhật Bản (RIKEN). Thành lập năm 2000, Viện CDB được Nhật Bản đầu tư để trở thành một trong những Viện công nghệ sinh học hàng đầu của thế giới.

Năm 2002, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, Nguyễn Văn Thuận đã trở thành người nước ngoài đầu tiên được nhận vào làm nghiên cứu sau tiến sĩ tại CDB cùng với nhóm nghiên cứu của TS Wakayama trong lĩnh vực sinh sản vô tính và tế bào gốc. Đến nay, đã có khoảng 20 nhà nghiên cứu từ các nước Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga, New Zealand, Trung Quốc làm việc tại Viện CDB. Đây là một môi trường làm việc lý tưởng cho các nhà khoa học. Tuy nhiên đòi hỏi của CDB để nhận vào làm nghiên cứu cũng rất cao. Vì vậy, mặc dù CDB mở cửa chào đón tất cả các nhà sinh học trên thế giới đến nghiên cứu làm việc, nhưng mỗi năm cũng chỉ chọn được vài người từ những nước mạnh về công nghệ sinh học như Mỹ, Anh, Canada.

Tại Phòng nghiên cứu sự tái biệt hóa của gene nơi anh làm việc, những nghiên cứu của các nhà khoa học là tập trung làm sáng tỏ cơ chế tái biệt hóa của một tế bào bình thường (somatic cell) thành tế bào gốc (stem cell) và từ đó biệt hóa trở lại để trở thành bất cứ loại tế bào nào của cơ thể.

Anh cho biết, nếu hiểu rõ được quá trình sinh học này và điều khiển được chúng thì sẽ là một cuộc cách mạng mới trong sinh học của nhân loại. Khi đó, chỉ cần điều khiển sự tắt mở các khóa sinh học của tế bào, chúng ta có thể tạo ra bất cứ loại tế bào nào chúng ta cần thiết mà không cần phải thông qua kỹ thuật tế bào mầm bằng phôi như hiện nay. Tuy nhiên, đây chỉ là bước đầu nghiên cứu, còn để đạt đến điều đó có thể nhân loại cũng phải mất vài thập niên.

Phòng thí nghiệm này còn có nhiệm vụ tìm ra những sai sót trong quá trình tái biệt hóa trong sinh sản vô tính (Cloning) và tìm ra phương pháp sửa chữa những sai sót đó với mục đích cuối cùng là nâng cao tỷ lệ thành công của kỹ thuật nhân bản vô tính.

Ngoài ra, một mảng nghiên cứu chính nữa của các nhà khoa học là tạo ra tế bào gốc từ một tế bào bình thường thông qua kỹ thuật tạo phôi nhân bản vô tính.

Hiện nay nhóm nghiên cứu của anh đã chứng minh được tế bào gốc tạo ra từ phôi vô tính có đầy đủ những đặc tính của một tế bào gốc bình thường được tạo ra từ phôi thụ tinh. Công trình này đã được nhóm công bố vào đầu năm 2006 trên tạp chí PNAS (Proceedings of the National Academy of Sciences - tập hợp những nghiên cứu nổi bật trong năm của Mỹ) và tạp chí Stem cell.

TS Nguyễn Văn Thuận sinh năm 1966, tốt nghiệp bác sĩ thú y tại ĐH Nông lâm TP Hồ Chí Minh năm 1990 và được giữ lại làm việc tại trường. Tháng 10-1996, anh sang Nhật Bản học thạc sĩ khoa học chuyên ngành Sinh học sinh sản tại Trường Đại học Kobe. Năm 1999, anh tiếp tục theo học chương trình Tiến sĩ về chuyên ngành công nghệ sinh học ứng dụng và tốt nghiệp tiến sĩ vào tháng 3-2002.

Năm 2002, sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, anh làm việc tại Phòng nghiên cứu tái biệt hóa gene (Genomic Reprogramming), Trung tâm Công nghệ sinh học và phát triển, Viện Lý hóa Nhật Bản (RIKEN-CDB).

TS Nguyễn Văn Thuận còn là Giáo sư thỉnh giảng tại các ĐH Kobe, ĐH Kinki; thành viên phản biện cho các tạp chí khoa học: Biology of Reproduction (Mỹ), Reproduction (Mỹ), Theriogenology (Mỹ), Tạp chí Sinh sản và Phát triển (The Journal of Reproduction and Development) của Nhật Bản; Chủ tịch điều hành Hiệp hội Công nghệ sinh học sinh sản các nước châu Á.

TS Thuận: “Tôi sẽ công bố hai nghiên cứu mới tại Hội nghị”

TS Nguyễn Văn Thuận cho biết, đầu năm 2006, anh có hai công trình nghiên cứu được công bố trên tạp chí Biology of Reproduction của Mỹ mà anh sẽ báo cáo tại Hội nghị công nghệ sinh học sinh sản lần thứ ba này. Một là phát hiện ra được cơ chế sự hình thành trục nhiễm sắc trong quá trình biệt hóa của tế bào trong sinh sản vô tính. Công trình thứ hai là phát hiện ra nguyên nhân gây nên những biểu hiện không bình thường trong quá trình phát triển của phôi vô tính và của động vật được sinh ra bằng phương pháp vô tính. Công trình này được tạp chí Biology of Reproduction bình chọn là công trình đáng được chú ý (Highlights).

Tuy nhiên, anh tiết lộ, công trình nghiên cứu mà anh tâm đắc nhất là giữa năm 2006, thông qua những phát hiện nguyên nhân gây nên sự sai sót trong quá trình biệt hóa tế bào của sinh sản vô tính, anh và các đồng nghiệp đã phát hiện ra một phương pháp chỉnh sửa những sai sót đó và kết quả là có thể nâng cao tỷ lệ sinh sản trong sinh sản vô tính lên trên 10% (trong một vài trường hợp có thể đạt được 25-29%). Trước đây, tỷ lệ thành công của nhân bản vô tính rất thấp, khoảng 0,1-2 %, sau đó nâng lên 7-8%. Và quan trọng hơn là từ nghiên cứu này, nhóm của anh có thể tạo được hệ vô tính từ những dòng chuột gốc (inbred) mà thế giới hiện nay vẫn chưa tạo ra được.

“Công trình hiện nay vẫn chưa công bố, có lẽ tôi sẽ đặt tên cho công trình là Vị cứu tinh của sinh sản vô tính (Saviour of cloning). Tuy nhiên trong bài phát biểu của tôi tại Hội nghị lần này, tôi sẽ thông báo đến các nhà khoa học là chúng tôi đã thành công nhân bản vô tính những giống chuột gốc mà hiện nay thế giới vẫn chưa làm được”, anh nói. Còn cụ thể như thế nào thì anh sẽ công bố sau khi công trình đã được nhận bản quyền và giới thiệu trên tạp chí khoa học, dự kiến có lẽ đầu năm 2007, anh tiết lộ.

TS Thuận tâm sự, những lúc cảm thấy khó khăn trong hướng nghiên cứu chính (Stem cell and Cloning), anh đã tìm đến những nghiên cứu phụ ứng dụng hỗ trợ trong sinh sản (assisted reproductive technology, ART) và tiếp tục tìm ra những hướng đi mới trong hướng nghiên cứu chính.

Công trình bảo quản tinh trùng không cần kỹ thuật đông lạnh mà anh tìm ra vào cuối năm 2004 và được công bố trên tạp chí Biology of Reproduction vào năm 2005 là một thí dụ. Đến nay, công trình đã được sử dụng nhiều trong các phòng thí nghiệm tại Nhật và các nước khác để giảm chi phí vận chuyển tinh trùng cũng như giảm số lượng thú phải giết để lấy tinh trùng.

Phương pháp mới này giúp chúng ta có thể vận chuyển tinh trùng không cần phải trữ đông, mà chỉ sử dụng nước và tăng áp suất thẩm thấu của nước lên khoảng 700-800 Osmolarity (đơn vị đo thẩm thấu) bằng muối (NaCl). Với kỹ thuật này, anh có thể mang tinh trùng từ các nước trên thế giới về Việt Nam, chỉ cần bỏ trong túi áo, và sau đó vẫn có thể tạo ra được thế hệ sau thông qua kỹ thuật thụ tinh bằng kính hiển vi.

Nghĩ về đất nước thì ở đâu cũng có thể đóng góp được

 
“Giá Việt Nam cũng có một phòng thí nghiệm bằng một nửa thế này…”.

Được làm việc trong một phòng thí nghiệm hiện đại với những điều kiện tốt nhất, TS Nguyễn Văn Thuận luôn nghĩ về đất nước và tìm cách để phát triển nền công nghệ sinh học sinh sản nước nhà. Tất cả những việc làm của anh, từ việc hình thành hiệp hội đến việc tổ chức Hội nghị tại Việt Nam, mục đích chính là thúc đẩy sự say mê nghiên cứu của các nhà khoa học trẻ trong nước về lĩnh vực này. Vì nhà nước có đầu tư bao nhiêu đi nữa mà chúng ta không có những nhà khoa học nghiện làm nghiên cứu như những game thủ nghiện chơi game online thì cũng không thể có những công trình lớn được, anh nói.

Ngay cả việc tham gia trình diễn kỹ thuật sinh thụ tinh trong ống nghiệm và kỹ thuật chuyển cấy nhân trong sinh sản vô tính, theo anh, cũng là để các nhà khoa học trong nước thấy rằng kỹ thuật này hoàn toàn không khó và Việt Nam có thể thực hiện được.

Anh rất mong có nhiều nhà khoa học trong nước quan tâm đến lĩnh vực này biết đến Hội nghị mà tham gia.

Anh cho biết, tại Việt Nam cũng đang tiến hành làm phôi nhân bản vô tính, và TS Bùi Xuân Nguyên thuộc Viện Công nghệ sinh học Việt Nam, Chủ tịch của Hội nghị ARBS lần 3 này, cũng đã thành công trong tạo ra phôi nhân bản vô tính. Tuy nhiên đến nay Việt Nam vẫn chưa tạo ra được động vật vô tính hoàn chỉnh.

Anh ao ước: “Giá như ở Việt Nam mà có được một phòng thí nghiệm chỉ bằng nửa của Viện CDB nơi tôi đang làm việc thì chắn chắn tôi sẽ về liền. Chỉ trong vòng một năm tôi có thể tạo động vật vô tính tại Việt Nam, và cũng chỉ bằng thời gian đó tôi có thể tạo ra tế bào.

Tuy nhiên, nếu về Việt Nam chỉ để giảng dạy thì tôi nghĩ mỗi năm dành thời gian vài tuần cho sinh viên mà tôi vẫn tiếp tục được làm nghiên cứu thì tốt hơn và có ích hơn cho các sinh viên. Vì đối với nhà khoa học, môi trường nghiên cứu mới quan trọng, chứ đứng ở bất cứ nơi nào trên trái đất này họ cũng có thể đóng góp cho đất nước nếu họ luôn nghĩ về đất nước.”

Có thể bạn quan tâm