Người chinh phục vùng đất phèn, mặn

ND - Ông Phạm Văn Giếng (46 tuổi) ở ấp Nha Sáp, xã Vĩnh Ðiều (Giang Thành, Kiên Giang) là một tấm gương sáng của địa phương, một điển hình của nông dân vùng biên giới Giang Thành trong việc chinh phục vùng đất mới đầy phèn, mặn.

Xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, đông anh em, nên ngay từ nhỏ ông Phạm Văn Giếng không có điều kiện đến trường cầm tập, cầm viết mà phải sớm cùng cha, mẹ cấy, cày... gắn bó tuổi thơ với con trâu, mảnh vườn, thửa ruộng. Lớn lên lập gia đình, cuộc sống càng lúc càng chật vật hơn khi những đứa con lần lượt ra đời. Ðó không phải là hoàn cảnh riêng của gia đình ông mà của hầu hết người nông dân ở vùng đất mới này. Mùa nắng nước biển xâm nhập sâu vào đất liền, cả một vùng đất rộng lớn hoang vu bởi độ mặn của muối, độ chua của phèn. Còn vào mùa mưa, lũ từ thượng nguồn tràn về, cả cánh đồng mênh mông như biển.

Sau khi Nhà nước đầu tư xẻ những con kênh dọc ngang thau chua rửa mặn, thoát lũ ra biển; người nông dân được vay vốn đầu tư làm bờ bao, sản xuất... thì cây lúa, cây màu mới có điều kiện phát triển ở đây. Tuy nhiên việc canh tác trên vùng đất mới được cải tạo không phải một sớm một chiều mà thành công.

Là một nông dân có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp ông Phạm Văn Giếng không đầu hàng hoàn cảnh, ông dành rất nhiều thời gian để nghiên cứu đất đai, thổ nhưỡng; dành dụm tiền sang một số địa phương vùng Ðồng Tháp Mười, An Giang để tìm hiểu, học hỏi thêm kinh nghiệm trồng lúa, các mô hình sản xuất kinh tế. Sau nhiều chuyến đi, gặp gỡ nhiều nông dân và một số nhà khoa học, ông nghiệm ra một điều, cái mà vùng đất này cần là khoa học-kỹ thuật. Ðến An Giang trên những cánh đồng có cùng đặc điểm thổ nhưỡng với vùng đất Giang Thành, ông tận mắt nhìn thấy những thửa ruộng xanh mướt vào đầu vụ, trĩu hạt vào cuối vụ, tìm hiểu thì biết được chính những giống lúa mới có khả năng chống chịu phèn và một chế độ canh tác, bố trí thời gian, cách thức phòng trừ sâu bệnh hợp lý đã tạo nên. Ðược những cán bộ khuyến nông tỉnh bạn tận tình hướng dẫn, ông đã mạnh dạn mua giống mới về áp dụng sản xuất trên mảnh ruộng của gia đình. Một vài vụ đầu do kinh nghiệm chưa thấm nhuần, năng suất có cải thiện nhưng chưa đáng kể. Ðến năm 2005, các con kênh thủy lợi T3, T4, T5 tiếp tục được hoàn thành đưa nước từ kênh Vĩnh Tế về thau chua rửa mặn... năng suất lúa bắt đầu có những bước vươn đáng kể. Ông Phạm Văn Giếng nhớ lại: "Tôi và nhiều bà con ở đây dù cả đời gắn bó với mảnh đất này nhưng những năm trước nhìn đất, rồi nhìn lúa thấy buồn lắm! Ðất đai chua mặn, con cá còn không sống được, lúa mới sạ thì xanh nhưng thời gian sau chuyển sang mầu vàng, rồi đỏ... mỗi năm thu hoạch chỉ vài giạ/công". Ðó là thời gian đầu, còn hiện tại lúa ở vùng này đã làm được hai vụ mỗi năm, năng suất và chất lượng đã được cải thiện rõ rệt, mỗi vụ bình quân đạt từ 5 đến 6 tấn/ha, một số nơi còn áp dụng cả giống chất lượng cao. "Giờ đây thì tốt rồi, nhất là khi các con kênh thủy lợi hoàn thành, đường giao thông thông suốt. Năng suất lúa tăng, không còn cái cảnh vừa mất mùa, vừa bị ép giá nữa" - ông Phạm Văn Giếng nói tiếp.

Qua một vài vụ trúng mùa, trúng giá không những ông Giếng đã trả hết nợ cho ngân hàng mà còn có tích lũy để mở rộng diện tích. Ông quan niệm, ở vùng đất này trong mươi năm tới giàu hay nghèo cũng từ nông nghiệp. Với ý nghĩ đó mà diện tích đất sản xuất lúa hai vụ của ông không ngừng tăng lên, đến nay ông đã sở hữu 12 ha đất. Việc canh tác lúa đã ổn định, ông Giếng bắt đầu áp dụng thử nghiệm một số mô hình sản xuất mới. Trên diện tích đất vườn, ông cải tạo đào thành những ao nuôi cá, đắp bờ lũy trồng cây ăn trái, hoa màu. Ông Phạm Văn Giếng cho biết thêm: "Trên ba công mặt nước, tôi áp dụng mô hình nuôi cá đa canh gồm các loại như: cá rô phi, cá lóc, cá rô đồng, cá tra... mỗi năm thu hoạch từ cá cũng vài chục triệu đồng". Và theo tính toán của ông, chỉ tính riêng hai vụ lúa, vụ cá và 150 cây xoài đang độ quả sai, mỗi năm ông thu nhập hơn 500 triệu đồng.

Không những vậy, ông còn là nhà nông đầu tiên ở vùng quê nghèo khó này dám đầu tư hàng trăm triệu đồng để mua các loại máy móc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hiện với hai chiếc máy cày, bốn chiếc máy bơm, một lò sấy và một máy gặt đập liên hợp, mỗi năm cũng mang về cho gia đình ông nguồn thu hơn 300 triệu đồng. Tôi xin trích một đoạn nhận xét về ông Phạm Văn Giếng của ông Nguyễn Văn Út, Chủ tịch Hội Nông dân xã Vĩnh Ðiều, một người gần gũi và gắn bó với người nông dân nơi đây, để kết thúc bài viết này: "Xuất thân của anh Giếng cũng như nhiều nông dân vùng đất phèn, mặn này, nhưng ở anh Giếng phát huy tốt phẩm chất của người nông dân cần cù trong lao động, sản xuất, ham học hỏi và dám nghĩ, dám làm. Mô hình sản xuất của anh Giếng không chỉ tạo thu nhập cao cho gia đình mà còn góp phần cùng địa phương thực hiện tốt chủ trương cơ giới hóa trong sản xuất, giúp người dân giảm bới chi phí, tránh hao hụt trong thu hoạch".

VIỆT TIẾN

Có thể bạn quan tâm