Gặp chủ nhà, bà nhã nhặn:
- Tôi xin phép gọi ông là "cậu" được không ạ?
- Vâng, tôi năm nay mới 64.
- Chuyện là nhờ có thư của các cậu năm 1997 mà gia đình tôi biết tung tích người thân. Cậu phải thu xếp đi với tôi về Lục Nam...
Tại bia liệt sĩ ở Hòn Tròn, rê tay đến hàng thứ 11- tên liệt sĩ Hoàng Văn Bùi, bà nghẹn ngào: "Thưa các đồng chí! Thưa các chú, các cậu! Tôi là Lục Thị Nhét, dân tộc Tày, là chị liệt sĩ Hoàng Văn Bùi, xã Bằng Lăng, huyện Chợ Ðồn, Bắc Cạn (mọi người thì thầm, sao hai chị em lại khác họ ?) - "Tôi không phải là chị ruột mà chỉ là chị dâu" (đám đông xao động). "Chú Bùi là em chồng tôi. Nhưng không phải em ruột mà chỉ là em nuôi" (đến đây, có người khóc).
"Năm đói, người dưới xuôi bỏ lên miền ngược kiếm ăn, rất nhiều người chết. Bố mẹ chồng tôi đón được chú Bùi, đặt họ, nuôi chú ấy lớn, rồi lấy vợ cho chú. Cưới một thời gian, chú ấy bỏ nhà đibặt tin. Bố mẹ tôi rất buồn. Lại chịu tiếng không hay trong bản là ăn ở không tốt nên người Kinh bỏ đi. Trước khi chết, bố mẹ chồng, rồi chồng tôi cũng trối lại rằng, phải cố tìm tung tích chú ấy.
Chúng tôi tìm chú ấy rất lâu, nhưng không hy vọng. Tôi ngày một già, không biết có làm được lời bố mẹ dặn. Thế mà bỗng nhận được thư ông Tạ Ngọc Phi và ông Lê Bình. Tôi khóc! Các con tôi chảy nước mắt! Cả bản tôi mừng vui! Hóa ra, thật là chú ấy hy sinh ở Bắc Giang, chú ấy chết vì nước!
"Thưa các đồng chí, các chú, các cậu! Thế là gia đình tôi sum họp! Năm 1998, Nhà nước đã công nhận liệt sĩ cho chú Bùi. Tôi già, nay mới về được để thấy em tôi trên bia liệt sĩ. Thứ hai là để biết ơn đồng đội, chỉ huy của chú Bùi đã không quên các chú ấy. Thứ ba là biết ơn đảng bộ, chính quyền, nhân dân địa phương chăm sóc em tôi bao năm nay...".
Kể chuyện bà mế năm nay đã 86 tuổi, mắt ông già ngoài 70 đỏ hoe và giọng cứ nhỏ dần đi...
| Thiếu tướng Trần Giang phát biểu |
Ông là hàng xóm trong khu tôi ở, nhận trông xe, bán tạp phẩm... Ông Lê Bình là ai, tôi không rõ, nghe loáng thoáng là thương binh chống Pháp, cán bộ Trung ương Ðoàn cử vào phụ trách Tỉnh đoàn Ninh Thuận từ năm 1968 đến 1975,...
Người bảo "Ông ấy về có báo cáo xin phép không tham gia việc phường, phố". Người nói: "Ông ấy bất mãn. Lúc cần thì sinh hoạt, không cần thì bỏ". Nhìn thẳng vào mắt tôi, ông đáp, u uẩn với những ký ức buồn: "Tôi về nghỉ trong hoàn cảnh vợ bị bệnh tiền đình, tiểu đường, di chứng thần kinh suốt thời chiến tranh, suốt 18 năm đến sau năm 1975 mới có con.. Năm 1983, bà ấy yếu quá, Cục trưởng Vật tư vận tải Tổng cục Hóa chất thương tôi bảo: "Ngày đi làm, tối anh lên cơ quan gác đêm thay chị ấy". Tôi thương binh hạng bốn chống Pháp, bị bệnh gan từ thời chiến tranh... gác được hơn một năm thì đủ 25 năm cho bà ấy về hưu..."
Mười mấy năm trời, ông làm cha, làm vợ, làm ô-sin chẳng nề hà - "Ðảng viên để vợ con nheo nhóc là có tội, vì làm cho họ mất lòng tin vào lý tưởng của Ðảng. Tôi không chuyển sinh hoạt Ðảng vì ngoài chuyện thất lạc hồ sơ suốt hai năm trời, rồi tuổi tác, ốm đau, còn vì quá bức xúc với tiêu cực. Tôi vào Ðảng từ ngày 1-6-1955 khi vừa sang tuổi 18 đúng ba ngày, từng là Phó Bí thư, Thường vụ, Thường trực Ðảng ủy Bộ Năng lượng. Giảm biên về Công ty dịch vụ Than có ngại gì đấu tranh. Tôi có tự trọng, không thể gặp lại người không đủ tư cách ký chuyển sinh hoạt Ðảng, dẫu đó là thủ tục!"
- Chả lẽ chỉ vì một cá nhân, mà bác làm vậy?
- Vợ tôi phê phán tôi lắm. Tôi cũng không nghĩ làm thế là hay! Tôi về cởi áo đi xây thuê, nhận đưa đón con người ta đi học, chữa xe đạp, bán hàng... - "Có người bảo tôi bất mãn vì mất chức quyền. Nhưng tôi tin tổ chức, đồng đội biết lòng tôi. Tôi còn một nỗi...".
Lá đơn ông gửi chi bộ, tổ dân phố và toàn thể các đồng chí đảng viên nhà L1 + L2, ngày 23-6-2007 viết: "Từ 1992 đến nay, tôi hoàn toàn tập trung (không nhận làm bất cứ việc gì ở tổ dân phố; ở hội đồng hương...) để làm việc nghĩa tình với 318 liệt sĩ - những đồng đội đã cùng tôi chiến đấu và anh dũng hy sinh trong chiến dịch Xuân Hè tháng 7-1954 ở Lục Nam, Bắc Giang...".
Tôi bàng hoàng. Vẫn con người ấy, nhìn nghiêng ra một chân dung, nhìn thẳng lại là diện mạo khác. Ông là người tốt không toàn bích.
Sáng 16-7-1954, Ðại đội 397 (C397), D89, E36, F308 (Ðại đoàn Quân Tiên Phong) được giao nhiệm vụ đánh chặn quân Pháp tiếp viện từ Phả Lại lên Lục Nam ứng cứu căn cứ Cầu Lồ, Ðồi Ngô, Hòn Tròn, Chỉ Tác. Gần một trung đội thiếu (28 người) và tiểu đội cối 60 ly của ông Bình đối đầu hai GM lính Pháp hơn 1.200 tên có xe tăng, pháo binh, máy bay yểm trợ.
27 người hy sinh chỉ một ngày. Sau chiến dịch ác liệt trước sự chống trả điên cuồng trước giờ giãy chết của địch, Trung đoàn 36 mất 318 người, sau được quy tập về bốn nghĩa trang huyện, không tên tuổi, quê quán, lặng lẽ trong sự chăm sóc và cả thắc mắc: họ là liệt sĩ của đơn vị nào?
| |
Bốn hôm sau thì đình chiến. Ông Bình hành quân về Trại Cờ, Hiệp Hòa, Bắc Giang, cùng đơn vị chuẩn bị cho Karmen quay phim, chờ ngày tiếp quản Thủ đô trong cờ hoa, để lại đằng sau máu xương đồng đội - "Mấy chục năm chỉ day dứt: các anh chết trẻ quá. 28 người chỉ còn anh Lưỡng, sắp đem chôn, may ngáp ngáp, cấp dưỡng đổ sữa nước vào họng, gửi lại nhân dân Huyền Sơn, Lục Nam chăm sóc..." - ông lại miên man - "28 người chỉ còn một, còn một... 318 liệt sĩ, vô danh mấy chục năm trời".
Cuộc họp đầu tiên năm 1992 bầu ông Phi làm tổ trưởng, ông Bình làm tổ phó tổ bạn chiến đấu C397. Trở lại Huyền Sơn, ông Lê Bình và Ðại tá Hồng Giang, Chính trị viên C397 đạp xe đạp, xúc động và xót xa nhìn những bia mộ không tên xuống cấp vì thời gian. Ông Phán trưởng thôn Hòn Tròn, tuổi ngoài 70, bồi hồi: "Lúc đó, tôi đang chăn bò gần đó. Các anh chiến đấu cực kỳ anh dũng !" Năm 1993, tại Lễ tưởng niệm 27 liệt sĩ ở Hòn Tròn, nghe ông Dương Thế Minh, nguyên Tiểu đoàn trưởng D89 phát biểu ý kiến, quân, dân cùng khóc khi biết rõ sự thật. Cựu binh C397 thống nhất quyên tiền dựng bia khắc tên và văn bia ghi công 27 liệt sĩ ở Hòn Tròn, 37 liệt sĩ đánh trận Chỉ Tác.
Cuối năm 1993, Trung tướng Hồng Sơn, nguyên Trung đoàn trưởng 36 ủng hộ 500.000 đồng. Trung tướng Hồng Cư, nguyên Phó Chính ủy E36, nguyên Phó Chủ nhiệm TCCT góp 500.000 đồng, lại vận động một đơn vị quân đội ủng hộ một triệu đồng. Thiếu tướng Trần Giang, nguyên Chính trị viên Tiểu đoàn 89 góp 500.000 đồng. Sở LÐ-TB và XH tỉnh giúp hơn 20 triệu đồng. Người 30.000 đồng, người 50.000 đồng, người 100.000 đồng... CCB E36 Bắc Bắc ở Hà Nội quyên được khoảng tám triệu đồng.
Tháng 12-1996 khánh thành Ðài liệt sĩ Hòn Tròn. Ngày 1-1-1998 khánh thành Ðài liệt sĩ Chỉ Tác - "Sau đó, tôi đề nghị anh Ðệ, Bí thư Huyện ủy Lục Nam bấy giờ cho xây dựng tiếp Khu tưởng niệm ghi tên toàn bộ liệt sĩ của chiến dịch. Anh Ðệ đồng ý, nói huyện cần danh sách liệt sĩ. Thiếu tướng Ðào Ðình Sung đang làm thì mất và tôi tiếp tục. Ðại tá Bắc Bình giúp phô-tô danh sách liệt sĩ Sư đoàn 308 từ Lưu trữ Cục Quân lực Bộ Quốc phòng. Tôi lọc được 318 liệt sĩ Trung đoàn 36 hy sinh tháng 7-1954 tại Bắc Giang, nhờ Ðại tá Trịnh Tráng, nguyên Sư đoàn Phó Sư đoàn 308 giúp đưa về đơn vị đóng dấu...".
Qua Trung ương Ðoàn, tổ chức Cựu chiến binh, cuối cùng nhờ Trung tướng Hồng Cư viết thư cho nguyên Bộ trưởng Nguyễn Thị Hằng hiệu quả, việc xây mới Nghĩa trang Cầu Lồ và Khu tưởng niệm ghi tên 318 liệt sĩ đã hoàn thành tháng 12-2006 với kinh phí 500 triệu đồng Bộ LÐ-TB và XH cấp cho huyện lấy từ ngân sách 2006 của Sở LÐ-TB và XH tỉnh Bắc Giang, huyện bỏ thêm 110 triệu đồng.
"Hồi 1996, có thể nói đây là lần đầu trong cả nước, cấp đại đội và xã tự vận động xây dựng bia, đài tưởng niệm liệt sĩ" - Trung tướng Hồng Cư nhận xét.
Những hy sinh vì nước luôn là tượng đài bất tử, xúc cảm vô bờ trong lòng mỗi người dân Việt, như sợi tơ đồng, khẽ chạm là ngân. Bí thư Ðảng ủy xã Huyền Sơn, Trần Quang Tuyến nói: "Năm 1955, dân rất tích cực quy tập mộ liệt sĩ. Ðền ơn đáp nghĩa luôn là bổn phận và vinh dự của chúng tôi"...
Ông Trần Quang Sơn, nguyên Thường vụ Ðảng ủy xã Huyền Sơn kể: "Hồi quy tập, bốc lên còn thấy "ca Kiên Quyết" (Ca in chữ "Quyết chiến quyết thắng", bữa khao quân, Huy hiệu Ðiện Biên, thuốc lá Ðại Tiền Môn là phần thưởng Bác Hồ tặng chiến sĩ Ðiện Biên) - "Ông" quấn dù, "ông" quấn nhựa, có người chưa rữa thịt".
Bà Trần Thị Cân, 69 tuổi thôn Bãi Dài, (Chỉ Tác cũ) nói mà quệt mắt: "Hồi đó tôi 16 tuổi, dát lắm! Trên chia tổ tam tam xuống thung lũng Hố Vàng. Nhiều người bỏ chạy, tôi vẫn nhặt, rửa, gói hài cốt lại mang về sân hợp tác xã liệm... Sau đó, huyện đánh cho tôi một giấy khen".
- Thế bà không sợ à?
- Làm xong, về nhà còn không ăn được cơm! Nhưng cứ nghĩ người thân mình đi bộ đội là làm băng băng. Hai người khiêng cùng, giờ chết cả rồi.
Sau hơn nửa thế kỷ, những liệt sĩ chống thực dân Pháp cuối cùng của Trung đoàn 36 ngã xuống chỉ gang tấc trước lúc miền bắc hoàn toàn giải phóng, đã có thể ngậm cười. 318 "liệt sĩ vô danh" đã được khắc lại bia mộ là: "Liệt sĩ Trung đoàn 36 Bắc Bắc, Sư đoàn 308" trong bốn nghĩa trang liệt sĩ được nâng cấp khang trang.
15 năm lặn lội, trước khi có xe máy, ông Bình đã 16 chuyến cho xe đạp lên ô-tô khách về Bắc Giang, rồi đạp tiếp về Huyền Sơn, Lục Nam, mỗi chuyến đi về gần 200 km.
| |
Trong số 318 liệt sĩ, ông gửi thư cho 169 gia đình có địa chỉ rõ ràng. 100 người đã báo tin lại, trong đó 63 người gọi điện, 23 người viết thư. 17 gia đình về tận nhà ông báo, có người đến cổng, hỏi đúng tên ông là bưng mặt khóc. Ba gia đình cho biết họ chưa nhận được chính sách gì thì năm 1998, ông Hoàng Văn Bùi đã được công nhận liệt sĩ; thân nhân liệt sĩ Trần Khắc Bí (Thanh Hóa), Trần Kim Quy (Hà Tĩnh) vẫn đang chờ đợi.
Danh sách 149 liệt sĩ không rõ quê được ông lọc ra 62 liệt sĩ chỉ có tên, đơn vị; 46 liệt sĩ chỉ ghi tỉnh; 41 liệt sĩ chỉ ghi huyện (tổng cộng 19 tỉnh), phô-tô gửi hội CCB 19 tỉnh, thành phố nhờ báo về xã. Ông Bình băn khoăn: "Rất có thể, nhiều thân nhân của họ vẫn chưa nhận được giấy báo tử".
Lần thấy ông ôm 169 thư đi gửi, biết chuyện, bưu điện cho gửi miễn phí. Lãnh đạo Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người tặng ông 100.000 đồng để "dán tem" và nhận giúp gia đình liệt sĩ tìm mộ. Hai nguời đã có kết quả, 12 gia đình vẫn tiếp tục xác minh.
Ông lại về Huyền Sơn như mộng du, như là có nợ... Hai phương pháp ông theo đuổi là: "Nhiệt tình và kiên trì". Triết lý của ông là: "Làm việc nghĩa thì ai cũng ủng hộ". Ông ước: "Trả lại tên cho anh em, dẫu bây giờ họ đã trở về mái nhà đơn vị". Ông bảo: "Công lao là của lãnh đạo, nhân dân, CCB Huyền Sơn, huyện Lục Nam, của tỉnh, của bộ, của các anh Tạ Ngọc Phi, Trần Chủ, Trịnh Tráng, Hồng Sơn, Hồng Giang, Trần Giang, Bắc Bình, nhất là anh Hồng Cư... Cá nhân tôi chẳng là gì cả".
Sau cú ngã xe máy trầy đầu gối trên đường cao tốc Hà Nội - Lạng Sơn khi về Lục Nam cuối tháng 7 vừa rồi, bà vợ đành "ra lệnh": "Thôi, ông đừng đi xe máy nữa !" - "Phải nghe thôi, già rồi" - ông nói vậy.
Ông kể: "Ngày 9-5-2007, tôi đưa ông Hiệp đến Cục Chính sách Bộ Quốc phòng. Họ bảo: "Trường hợp này từ tháng 9-2006 về trước cấp tỉnh giải quyết, nay theo quy định mới 2007 thì các bác về chờ, nếu trên chấp thuận thì cấp tỉnh hoặc quân khu sẽ giải quyết" - "Chờ đến bao giờ, hơn 50 năm chưa đủ hay sao?"
Công văn 834/TBLS và NCC ngày 8-8-2007 ghi: "Cục Thương binh Liệt sĩ và Người có công xin chuyển đơn thư của ông Lê Bình trú tại...đề nghị việc xác nhận liệt sĩ đối với các ông Trần Khắc Bí... ông Trần Kim Quy... Ðề nghị Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị- Bộ Quốc phòng xem xét và trả lời ông Lê Bình" - "Người nọ bảo hỏi người kia! Tôi chỉ mong hai bộ căn cứ hồ sơ do đơn vị, địa phương và chúng tôi xác nhận để sớm công nhận liệt sĩ cho anh Bí, anh Quy... và nhiều người khác có hoàn cảnh tương tự".
Ðó là mong ước không nguôi tôn vinh những người "hy sinh trước bình minh" - như Trung tướng Hồng Cư nói.
Ðó là mong ước xót lòng để được thanh thản với người đã khuất của những cựu binh tuổi đã xế chiều: Ai sẽ công nhận các liệt sĩ? Ách tắc ở đâu? Cải cách thủ tục hành chính phải thế nào để thực sự vì dân, trọng dân?
Mấy cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc đã qua đi, nhưng, những tấm gương chiến đấu hy sinh của biết bao Anh hùng, liệt sĩ vẫn luôn nhắc nhở chúng ta - những người đang sống.