Nghiệp chè trên đất Lâm Ðồng

Thiếu nữ Cơ Ho thu hoạch chè.
Thiếu nữ Cơ Ho thu hoạch chè.

Mỗi lần trở về Ðà Lạt, khi xe leo qua đèo Bảo Lộc là trong tôi có ngay tâm trạng thật sự gần gũi và thân thiết. Cảm giác ấy có được khi ngắm nhìn những nương chè tiếp nối nhau trải dài, xanh ngút mắt, những lối chè thẳng hàng như ngàn thiếu nữ rẽ đường ngôi cho mái tóc xuân thì trên đồi. Không gian khoáng đạt, lãng mạn và tràn đầy sức sống. Những cây chè vẫn hồn nhiên ngậm sương, đón gió, chắt chiu tơ trời, nhụy đất tích hương, góp vị. Còn con người với nghiệp chè trên xứ sở này thì lúc giáng lúc thăng...

Lịch sử biến thiên, con người phải nếm trải bao ngọt bùi cay đắng. Số phận của cây chè trên đất Lâm Ðồng cũng đi qua thời gian, bước theo nhịp chân lịch sử. Vẫn hồn nhiên sinh sôi nảy nở, suy thoái và phát triển ngay bên cạnh từng số phận con người trên vùng đất cao nguyên.

Ðến nay, trong số 33 tỉnh trồng chè với tổng diện tích hơn 125 nghìn ha trong cả nước thì Lâm Ðồng được xác định là vựa trà Việt Nam. Diện tích gần 26 nghìn ha, sản lượng hơn 182 nghìn tấn, chè Lâm Ðồng chiếm 21% diện tích và 27% sản lượng chè toàn quốc. Hàng trăm doanh nghiệp và hàng trăm cơ sở sản xuất, chế biến chè tại tỉnh với công suất 150 nghìn tấn chè búp tươi hằng năm. Ðó là những con số để góp phần khẳng định rằng, chuyện làm chè ở Lâm Ðồng là chuyện lớn và cây chè được coi là cây trồng chủ lực của địa phương. Và, việc diễn ra lễ hội trà lần thứ hai từ ngày 4 đến 7-12-2008 ở tỉnh Nam Tây Nguyên này cũng không có gì là "không phải phép"...

Suy ngẫm từ những con số thống kê nói trên, tôi đã tìm về nơi "phát tích" nghề canh tác và chế biến trà trên đất Lâm Ðồng. Chỉ cách trung tâm Ðà Lạt có hơn chục cây số, nhưng không gian ở đây khác hẳn. Cái không gian đậm "chất trà", vừa mang tính hoài niệm của thuở xưa khai đất vừa thể hiện sinh động những hình ảnh của sự bứt phá mới. Ngày xưa, nơi đây gọi là Sở trà Cầu Ðất do người Pháp lập ra. Còn bây giờ, tên gọi của doanh nghiệp mới trên nền đất cũ ấy là Công ty cổ phần chè Cầu Ðất. Ở Lâm Ðồng, nếu gọi B'Lao là "thủ đô chè" thì Cầu Ðất có thể coi là "nguồn cội chè". Chè phủ xanh núi đồi, chè mênh mang bất tận. Ở nhà máy chế biến trà có tuổi gần 100 năm này, dù nhiều lần thay tên đổi chủ nhưng vẫn còn giữ được khá nguyên vẹn giàn máy sản xuất chè theo kỹ thuật cơ khí hồi đầu thế kỷ trước. Ðây là dây chuyền sản xuất chè đen của Pháp gồm sáu cỗ máy được coi là cổ nhất Ðông Dương hiện nay với các chức năng từ vò, sấy, sàng, lên men, đến đánh bóng, làm sạch, đóng gói thành phẩm. Ðến nay trên dưới 60 năm những cỗ máy này vẫn còn hoạt động cùng với 230 ha chè của công ty, trong đó còn có gần 50 ha chè cổ thụ từ 60 - 70 tuổi vẫn còn cho thu hoạch - như là một hình ảnh về sự trường tồn của nghiệp làm trà trên xứ sở này.                   

Từ vùng Cầu Ðất, theo quá trình hình thành và phát triển, theo nhu cầu khai thác đất đai và nhân công bản xứ của giới chủ người Pháp mà cây chè lan dài xuống vùng Bảo Lộc, Di Linh theo lộ trình mới mở của con đường từ Ðà Lạt đi Sài Gòn thời thập niên 30 của thế kỷ trước. Chè bắt đầu làm quen với đất B'Lao từ các đồn điền của các ông chủ đến từ Tây Dương như đồn điền Felit B'Lao, B'Lao Sierré... rồi sau đó là sự ra đời của các trang trại, các rẫy trà, vườn trà của các hộ gia đình. Từ đó, ở vùng đất này đã xuất hiện một tầng lớp cư dân đông đảo chuyên sống bằng nghề canh tác hoặc chế biến trà hương. Một thế giới riêng của những người làm trà trên đất bazan đã khai mở từ gần 80 năm trước.

Ngay từ những ngày đầu dựng nghiệp trà trên quê hương mình, những người làm trà ở vùng đất này đã chọn ngay địa danh B'Lao để đặt tên cho sản phẩm của họ. Nhờ tiếng tăm đã được khẳng định của "thương hiệu B'Lao" mà các danh trà sau này, ngoài tên gọi cơ sở sản xuất đều dùng thêm chữ "trà B'Lao" trên bao bì sản phẩm, cho dù danh trà của họ có nổi tiếng đến mấy. Ðó có thể là Quốc Thái, Ðỗ Hữu, Trâm Anh, hay Rồng Vàng, Thiên Thành, Ngọc Trang... "Nếu không ghi chữ B'Lao vào bao bì thì sản phẩm như mất đi phần bản sắc quan trọng nhất và rất khó tiêu thụ" - chủ một danh trà đã khẳng định như thế. Ðiều đó minh chứng thêm cho sự hòa quyện máu thịt giữa con người, xứ sở và sản phẩm ra đời trên miền đất ấy. Ðồng thời, một lý do quan trọng khác là trà B'Lao mang dấu ấn đặc trưng riêng trong phong vị đã từng chinh phục thói quen thưởng trà của người "Ðàng Trong". Ở xứ "Ðàng Ngoài" có trà Bắc Thái nức tiếng từ lâu đời. "Gu" của khách sành trà mỗi miền khác nhau nên cách sao chế cũng không giống nhau. Trà Bắc Thái thường sao suốt và không ướp hương. Còn trà B'Lao thì chè búp tươi được luộc qua, ép bớt nước đắng rồi mới sao khô rồi ướp hương, đóng gói. Hương ướp trà ở B'Lao chủ yếu là hoa sói, hoa nhài. Ðặc biệt, loài hoa sói rất thích hợp với khí hậu Bảo Lộc. Hạt hoa sói nhỏ, trắng xanh như hạt gạo nếp và hương của nó rất "ăn" với cành trà. Do cách sao tẩm, chế biến khác nhau nên trà B'Lao có vị ngọt và thơm chứ không đậm chát như trà Bắc Thái.

Nghề làm trà ở cao nguyên B'Lao đã thành nghiệp cha truyền con nối. Những ông chủ của thế hệ đầu tiên của các danh trà nổi tiếng trên xứ sở này hầu như đã về với đất. Vẫn là những tên gọi cũ nhưng những người kế nghiệp đã sang đến đời thứ ba, thứ tư. Ở Bảo Lộc, chục năm lại đây xuất hiện rất nhiều doanh nghiệp - doanh nhân trong và ngoài nước tìm đến làm trà. Họ là những ông chủ Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ðài Loan... đến đầu tư thuê đất đai, nhân công và trồng trà để làm giàu và họ đã giàu nhanh chóng. Gần 1.500 cơ sở sản xuất chế biến trà lớn nhỏ là con số thống kê ở "đô thị trà" Bảo Lộc. Trà B'Lao không chỉ còn là sản phẩm nội tiêu mà đã tỏa hương ở nhiều thị trường trên thế giới. Tuy nhiên, người dân địa phương và khách thưởng lãm trà nhiều miền khi nhắc đến trà B'Lao thì trong tâm tưởng của họ bao giờ cũng hiện lên hình ảnh những trang trại trà, xưởng trà, phố trà danh tiếng đã xuất hiện từ mấy mươi năm trước. Những tên gọi thân thuộc gắn với những ông chủ trà xuất thân là những người phu đồn điền từ thuở nước nhà còn dưới ách nô dịch. Họ được coi là tiền bối trong công cuộc dựng nghiệp trà trên cao nguyên miền Thượng... Ðời của mỗi người thì đã qua và rồi lại sẽ qua, nhưng ở đất bazan cao nguyên này, nghiệp chè vẫn cứ trường tồn mãi mãi.

Có thể bạn quan tâm