Nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong Luật Phá sản

Trước hết, Luật quy định các căn cứ để xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Ðó là các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước khi tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà nghĩa vụ này không có bảo đảm; các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm được xác lập trước khi tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán đã bị hủy bỏ. Thứ hai là, luật quy định  việc hoàn trả tài sản cho nhà nước. Theo đó, doanh nghiệp đã được nhà nước áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh, nhưng vẫn không phục hồi được mà phải áp dụng thủ tục thanh lý thì phải hoàn trả lại giá trị tài sản đã được áp dụng biện pháp đặc biệt cho nhà nước trước khi thực hiện việc phân chia tài sản.

Một điểm mới khác là, Luật Phá sản năm 2004 không ưu tiên thanh toán các khoản nợ thuế như Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, mà coi đó là một trong các khoản nợ không có bảo đảm như các khoản nợ của các chủ nợ không có bảo đảm khác, thứ tự thanh toán như nhau. Theo đó, các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc, nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ, thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

Việc xác định giá trị của nghĩa vụ không phải là tiền cũng là một điểm mới đáng chú ý của Luật Phá sản năm 2004. Ðiều 38 của luật quy định: Trường hợp đối tượng nghĩa vụ không phải là tiền thì theo yêu cầu của người có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã, tòa án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Ngoài ra, tại các điều 39, 40 và 42, Luật Phá sản năm 2004 đã quy định nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh; việc trả lại tài sản do doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý thuê hoặc mượn và việc nhận lại hàng hóa đã bán.

Về các biện pháp bảo toàn tài sản (quy định ở Chương IV), cũng có nhiều điểm mới so với Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993. Ðiểm mới đầu tiên là Luật Phá sản năm 2004 xác định rõ các giao dịch bị coi là vô hiệu và việc tuyên bố giao dịch vô hiệu. Cụ thể là, các giao dịch của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu gồm: Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác; thanh toán hợp đồng song vụ, trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia; thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn; thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ; các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Việc quy định như vậy là nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản hoặc cố ý làm thất thoát tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Khi các giao dịch nói trên bị tuyên bố vô hiệu, thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Tòa án là cơ quan có thẩm quyền tuyên bố các giao dịch nói trên của doanh nghiệp, hợp tác xã là vô hiệu. Bên cạnh đó, luật cũng bổ sung quy định về đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực. Vì thực tế cho thấy, khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, thông thường họ đều có những hợp đồng đang có hiệu lực, nhưng chưa thi hành hoặc đang thi hành và do đó, cần đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu xét thấy có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Vì vậy, tại Ðiều 45, luật quy định theo hướng những hợp đồng không có lợi cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì bị đình chỉ thực hiện. Chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu tòa án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Một điểm mới nữa đáng chú ý là, luật đã bổ sung quy định về nghĩa vụ của ngân hàng, nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có tài khoản. Theo đó, nghiêm cấm ngân hàng này thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã, trừ việc thanh toán được thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản đồng ý bằng văn bản; nghiêm cấm thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm bù trừ hoặc thanh toán các khoản doanh nghiệp, hợp tác xã vay của ngân hàng. Ngoài ra, luật còn sửa đổi, bổ sung về quy định nhằm xác định rõ khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bằng việc kiểm kê xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Vũ Hoàng Long
(Biên soạn)

Có thể bạn quan tâm