Nâng cao hiệu quả quản trị thanh khoản tại các ngân hàng thương mại

Thanh khoản và quản trị rủi ro thanh khoản là yếu tố quyết định sự an toàn trong hoạt động của bất kỳ ngân hàng thương mại (NHTM) nào. Hiện nay, nhiều NHTM ở TP Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung đang phải đối mặt với tình trạng căng thẳng thanh khoản khi việc thu hút tiền gửi diễn ra rất quyết liệt. Do vậy, việc hoạch định nhu cầu thanh khoản ngày càng trở nên quan trọng.

Thanh khoản bấp bênh

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của mọi NHTM là bảo đảm khả năng thanh khoản đầy đủ. Nghĩa là, ngân hàng hoặc có sẵn lượng vốn khả dụng trong tay, hoặc có thể tiếp cận dễ dàng các nguồn vốn vay mượn bên ngoài với chi phí hợp lý và đúng lúc cần đến; hoặc có thể nhanh chóng bán bớt một số tài sản ở mức giá thỏa đáng để đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh. Bài học kinh nghiệm gần đây từ cuộc khủng hoảng năm 2008 của hệ thống ngân hàng Mỹ cho thấy, hiện tượng thiếu hụt thanh khoản thường là một trong những dấu hiệu đầu tiên cho thấy ngân hàng đang ở trong tình trạng khó khăn tài chính nghiêm trọng. Hậu quả tiếp theo có thể là ngân hàng mất dần các khoản tiền gửi cũ vì áp lực rút tiền ngày càng gia tăng, không thể thu hút thêm các khoản tiền gửi mới do thái độ dè dặt của khách hàng, một số ngân hàng thì ở trong tình thế cho vay hỗ trợ một cách miễn cưỡng vì phải huy động vốn với lãi suất cao hơn lãi suất cho vay, càng làm suy giảm hơn nữa lợi nhuận của ngân hàng.

Với các NHTM của chúng ta hiện nay, phần lớn các chỉ số thanh khoản đều rất "yếu ớt". Trước hết là vốn điều lệ, so sánh với các ngân hàng ở các nước trong khu vực thì mức vốn điều lệ của các NHTM là khá nhỏ bé (ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực có vốn điều lệ là một tỷ USD, tương đương 20.000 tỷ đồng). Thống kê cho thấy quy mô vốn của các NHTM của chúng ta còn quá nhỏ, không thể so sánh với các ngân hàng trong khu vực. NHTM cổ phần có vốn điều lệ cao nhất là Eximbank (10.560 tỷ), thấp nhất là 1.000 tỷ đồng. Trong khi đó, lộ trình tăng vốn của các NHTM cổ phần đến cuối năm 2010 phải đạt ít nhất 3.000 tỷ đồng (Ðã được gia hạn đến cuối năm 2011 vì còn nhiều NHTM không đạt được vào cuối năm 2010). Còn chỉ số về trạng thái tiền mặt cao, theo số liệu đã tính toán năm 2008, có 20 ngân hàng chỉ số trạng thái tiền mặt dưới 10%, trong đó một số ngân hàng có chỉ số rất thấp dưới 5% như: Agribank, BIDV, MHB, Vietinbank, An Bình, Habubank, MB, MSB, Ocean, Saigonbank, SHB, VIBank, Vietcombank. Những ngân hàng này khi có nhu cầu thanh khoản lớn, đột xuất, buộc phải vay trên thị trường tiền tệ với lãi suất cao. Thực tế đã chứng minh cho nhận định này, những tháng cuối năm 2008 đến cuối năm 2010, các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất tiền gửi và đẩy lãi suất vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng lên mức kỷ lục: gần 40%/năm ở thời điểm cuối năm 2009. Ngoài ra, chỉ số chứng khoán thanh khoản của các NHTM cũng không khả quan lắm. Phần lớn các ngân hàng đều nắm giữ chứng khoán thanh khoản với tỷ lệ thấp, chỉ số này đều giảm vào năm 2010, vì năm 2009 đã chứng kiến sự sụt giảm đáng kể trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Giải pháp cải thiện

Với thực trạng thị trường như hiện nay, vấn đề nâng cao chất lượng quản lý rủi ro thanh khoản nhằm giảm thiểu rủi ro vỡ nợ là mối quan tâm hàng đầu, là bài toán khó đặt ra không chỉ với một ngân hàng riêng lẻ mà đối với toàn hệ thống từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho tới các NHTM. Về phía NHNN, cần thực hiện tốt chức năng người cho vay cuối cùng một cách kịp thời kèm theo là các chế tài tương xứng, thậm chí nên công bố thông tin về một vài NHTM thường xuyên thiếu thanh khoản, mà nguồn gốc xuất phát từ nền tảng quản trị rủi ro trong kinh doanh kém. Ðiều này có thể ảnh hưởng (tạm thời) đến các ngân hàng này trong khả năng huy động vốn nhưng cũng là biện pháp mạnh nhất để buộc các ngân hàng phải chú trọng đến quản trị rủi ro và làm gương cho các ngân hàng khác. Tiếp đó, NHNN vẫn cần hỗ trợ thanh khoản cho các NHTM thông qua các công cụ điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, tín dụng nhằm kiềm chế lạm phát. Ðối với các NHTM lớn, có nhiều giấy tờ có giá đủ tiêu chuẩn thì việc hỗ trợ thanh khoản sẽ thông qua nghiệp vụ thị trường mở tại NHNN. Ðối với các NHTM nhỏ không đủ giấy tờ có giá hoặc không có khả năng cạnh tranh trên thị trường mở thì NHNN hỗ trợ thông qua công cụ tái cấp vốn. Bên cạnh đó, cần thực hiện ngay việc bán ngoại tệ của các tập đoàn kinh tế Nhà nước cho các ngân hàng, như thế sẽ vừa ngăn được tình trạng găm giữ ngoại tệ, tăng cung ngoại tệ cho thị trường, vừa giúp NHTM loại bỏ phần tín dụng ảo và giúp NHTM tăng khả năng thanh khoản hiện hành. Ngoài ra, NHNN cần đề ra các tiêu chí nâng cao tính thanh khoản mà NHTM buộc phải thực hiện theo một lộ trình nhất định, thậm chí khuyến khích việc mua lại và sáp nhập trong ngành ngân hàng nếu NHTM không thể tăng đủ vốn theo lịch trình mà NHNN đã công bố.

Về phía các NHTM, trước hết cần tập trung vào xây dựng chiến lược quản trị thanh khoản trong NHTM. Các ngân hàng cần thiết lập ngay chiến lược quản trị thanh khoản thông qua việc hoạch định và dự đoán những thay đổi về lưu lượng tiền gửi và cho vay, cũng như những thay đổi về lợi nhuận. Tiếp đó, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh, vì đây là một biện pháp khá căn bản để có thể quản lý thanh khoản trong cả công tác phòng ngừa và xử lý các khó khăn về thanh khoản. Trong đó, chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và công nghệ. Các ngân hàng cũng cần tổ chức tốt khâu phân tích và dự báo thị trường, đánh giá các rủi ro có thể xảy ra trong từng quy trình nghiệp vụ để triển khai kịp thời các biện pháp phòng ngừa và xử lý rủi ro. Cùng với đó, gia tăng tính liên kết, thống nhất giữa các NHTM để bảo đảm an toàn thanh toán, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh. Ðây là một vấn đề quan trọng nhằm giúp các ngân hàng có thể hỗ trợ nhau trong những lúc khó khăn không chỉ về thanh khoản, tránh những sự cạnh tranh không lành mạnh. Còn để hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra, các ngân hàng cần thực hiện việc cơ cấu lại tài sản nợ và tài sản có cho phù hợp, đó là cơ cấu lại nguồn vốn huy động và cho vay trên thị trường; cơ cấu lại dư nợ cho vay ngắn hạn với cho vay trung hạn, giữa nguồn huy động ngắn hạn dùng để cho vay trung, dài hạn. Thực hiện việc phát hành giấy tờ có giá, điều chỉnh cơ cấu cho vay vào các lĩnh vực nhạy cảm và rủi ro nhiều như chứng khoán, bất động sản và tiêu dùng. Các ngân hàng đều phải duy trì một tỷ lệ dự trữ (bao gồm tiền mặt trong ngân hàng, tiền gửi tại NHNN và các tài sản có "tính lỏng" cao khác) bảo đảm duy trì dự trữ bắt buộc của NHNN và để đối phó với các dòng tiền đi ra. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện các quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là trung, dài hạn) theo lãi suất thị trường để không xảy ra tình trạng các khách hàng gửi tiền, rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Ngoài ra, đẩy mạnh việc phát triển thị trường các sản phẩm tiền tệ phái sinh để hạn chế rủi ro khi thị trường tiền tệ biến động.

Có thể bạn quan tâm