Năm yếu tố để xây dựng một tập thể nghiên cứu khoa học mạnh

ND - Tập thể, nhóm nghiên cứu khoa học (NCKH), là đơn vị cấu trúc và chức năng của bất kỳ hệ thống nghiên cứu nào. Cùng với cơ chế tổ hợp là yếu tố quyết định cho sự thành công của hoạt động KH và CN cũng như đào tạo sau đại học của bất kỳ cơ quan, tổ chức và quốc gia nào. Nó giống như các tế bào tạo nên mô, mô tạo nên cơ quan, hệ cơ quan, cơ thể, quần thể, quần xã các hệ sinh thái và cả thế giới sinh vật phong phú, đa dạng và hữu ích.

Giáo sư Võ Quý, người đoạt Giải thưởng Hành tinh xanh năm 2003 và GS Phan Nguyên Hồng, người đoạt Giải thưởng Quốc tế Cosmos năm 2008. GS Võ Quý là người sáng lập ra tổ chức CRES thuộc Ðại học quốc gia. GS Phan Nguyên Hồng là người sáng lập ra Trung tâm nghiên cứu Hệ sinh thái rừng ngập mặn (MERD). Những điều kiện để các giáo sư (GS) có được các kết quả NCKH nêu trên có thể có nhiều, trước hết là về trí tuệ, kiến thức, lòng say mê với sự nghiệp khoa học và phục vụ đất nước, có hoạt động quốc tế sâu rộng... Nhưng điều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là họ có một tập thể khoa học đồng tâm nhất trí với các thế hệ nối tiếp nhau để bền bỉ theo đuổi một hướng nghiên cứu xác định.

GS Phan Nguyên Hồng theo đuổi hướng nghiên cứu hệ sinh thái rừng ngập mặn, một vấn đề ngày càng quan trọng trong khoa học và nhất là trong thực tiễn từ năm 1965. Hướng nghiên cứu này được MERD liên tục phát triển từ khi thành lập đến nay. Thời gian đầu chỉ là điều tra cơ bản thành phần loài, phân bố; lúc đầu chỉ là thực vật, sau đến động vật và hiện nay là cả vi sinh vật và hệ sinh thái. Ðiều quyết định và cũng là một thành công của GS Phan Nguyên Hồng là ông đã tổ chức được một tập thể NCKH mạnh để thực hiện các mục tiêu đề ra. MERD gồm những cộng tác viên mà phần lớn là các học trò do chính GS đào tạo. Mọi hoạt động của MERD đều rất rõ ràng và minh bạch, đặc biệt là về chuyên môn và tài chính... Các đề tài, dự án khoa học của MERD được quản lý chặt chẽ, nhất là khâu thẩm định và nghiệm thu, bảo đảm chất lượng (kể cả các đề tài do các cán bộ trẻ chủ trì). Ðây chính là cơ sở quan trọng nhất để tạo ra sự đồng thuận cao trong tập thể và điều quan trọng hơn là tạo ra những kết quả khoa học được kế thừa và ngày càng phát triển. Các hoạt động chuyên môn của CRES/MERD luôn được gắn bó trong sự hợp tác chặt chẽ với cộng đồng, địa phương theo phương châm dựa vào dân (dân biết, dân bàn, dân tham gia thực hiện), kết hợp với công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho họ.

Sau 20 năm hoạt động (1985-2005), cán bộ của CRES đã là chủ nhiệm của bốn trong số sáu chương trình cấp nhà nước về tài nguyên, môi trường và thiên tai, hơn 45 đề tài hợp tác quốc tế (28 với Hoa Kỳ) và hàng trăm đề tài KH và CN các cấp. Riêng tổ chức MERD, GS Hồng đã chủ trì bốn đề tài cấp nhà nước, năm đề tài cấp bộ, 13 đề tài hợp tác quốc tế.

Một khía cạnh nữa không thuộc về chuyên môn nhưng rất quan trọng cũng cần được đề cập là các sinh hoạt tập thể (mà ở nước ngoài gọi là hoạt động xây dựng nhóm - team building activities). Các chuyến tham quan ở trong nước (và cả ở nước ngoài) theo phương châm Nhà nước và dân cùng đóng góp; các sinh hoạt học thuật, xã hội khác cũng là nhân tố quan trọng, giúp tăng cường hơn sự hiểu biết lẫn nhau, sự chia sẻ, gắn bó, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động (giá trị) của cả cá nhân và tổ chức.

Từ hai trường hợp của GS Phan Nguyên Hồng và GS Võ Quý, có thể khẳng định, các nhà khoa học Việt Nam, ngay trong điều kiện thực tế hiện nay (điều kiện nghiên cứu còn khó khăn, hệ thống chính sách còn chưa hoàn thiện) vẫn có thể có được các công trình khoa học đạt trình độ cao, ngang tầm khu vực và quốc tế.

Ở tầm vĩ mô và lâu bền, để có được các tập thể NCKH mạnh, đạt chuẩn quốc tế theo chúng tôi cần có năm yếu tố:

Một là, cần có những nhà khoa học có khả năng, trình độ và đặc biệt là say mê sáng tạo; nói rộng hơn nữa là có nguồn nhân lực chất lượng cao. Ðiều này liên quan tới hệ thống giáo dục, đào tạo. Trong điều kiện hiện nay, nguyên tắc chung để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là đào tạo qua nghiên cứu và cho nghiên cứu theo xu hướng hội nhập. Ðổi mới tổ chức đào tạo sau đại học (SÐH) và sau tiến sĩ (TS) theo phương châm: Luận án/luận văn là một phần của các công trình NCKH; nghiên cứu sinh và các thực tập sinh sau TS là lực lượng NCKH chính trong các tổ chức KH và CN.

Hai là, có môi trường NCKH tốt, liên quan trước hết tới hệ thống quản lý (thể chế, chính sách, tổ chức, quản lý, thanh tra, kiểm tra, đầu tư...) cho các hoạt động KH và CN cũng như NCKH trong hệ thống từ cấp quốc gia tới cấp cơ quan quản lý, và cuối cùng tới các tập thể khoa học của các nhà khoa học. Hoạt động KH và CN phải được tiến hành theo cách tiếp cận "suy nghĩ toàn cầu, hành động địa phương", trong sự cân nhắc một cách phù hợp với bối cảnh quốc tế, quốc gia và địa phương, đơn vị. Kiến nghị:

- Xây dựng Chiến lược KH và CN quốc gia, ngành, các kế hoạch dài hạn, trung hạn và hằng năm để thực hiện chiến lược.

- Kiện toàn công tác quản lý nhà nước, quy trình xây dựng và quản lý các chương trình, đề tài, dự án KH và CN, đặc biệt là khâu đề xuất nhiệm vụ.

- Trong hoạt động KH và CN, chú ý đồng thời tới sản phẩm KH và CN và tăng cường năng lực của các tổ chức KH và CN nhằm bảo đảm tính kế thừa, phát triển và bền vững của các kết quả hoạt động.

Ba là, có cơ chế quản lý nguồn nhân lực hiệu quả, phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo, cơ chế hợp tác, phối hợp của các tổ chức KH và CN cũng như bản thân các nhà khoa học. Kiến nghị:

- Xây dựng và phát triển các tập thể NCKH mạnh, cao hơn nữa là các trung tâm xuất sắc (Centre of excellence) hay các trường phái khoa học.

- Xây dựng cơ chế vận hành và phối hợp trong R và D theo nguyên tắc "cây tre trăm đốt".

Bốn là, phát triển các mối quan hệ hợp tác, đặc biệt là hợp tác quốc tế.

Năm là, cần xây dựng một hệ thống thể chế, chính sách phù hợp và đồng bộ.

GS, TSKH TRƯƠNG QUANG HỌC
(Ðại học Quốc gia Hà Nội)

Có thể bạn quan tâm