Chúng ta vẫn còn đang phải đối mặt với Năm vấn đề bức xúc về an toàn thực phẩm đó là:
Bữa ăn tập thể, bữa ăn công nghiệp
Các bữa ăn tập thể, bữa ăn công nghiệp diễn ra ngày càng tăng: ở trong các trường học, các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy, công trường... Song điều kiện VSATTP ở các bếp ăn tập thể này chưa đạt yêu cầu còn chiếm tỷ lệ khá cao. Qua kiểm tra cho thấy tỷ lệ đạt về điều kiện VSATTP mới ở mức 52,6%. Các cơ sở phục vụ cho các bếp ăn tập thể phần lớn chưa được cấp giấy phép đủ điều kiện VSATTP theo quy định của pháp luật. Hậu quả là ngộ độc thực phẩm (NÐTP) ở các bếp ăn tập thể ở các trường học, khu công nghiệp từ năm 2000 đến 2006 là 328 vụ, chiếm 24,2% tổng số vụ NÐTP và 28.342 người mắc, chiếm 82,6% tổng số người bị NÐTP.
Việc nuôi trồng rau quả, gia súc, gia cầm, thủy sản chưa được kiểm soát
Từ môi trường nuôi trồng đến việc chăm sóc, phòng trừ dịch bệnh, thu hoạch và chế biến đều thiếu sự kiểm soát của các cơ quan chức năng. Tình trạng dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), kháng sinh và hoóc-môn đang là mối lo ngại của toàn xã hội, ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, thương mại và an sinh xã hội. Thống kê từ 2000 - 2006, đã có 667 vụ NÐTP do rau quả, HCBVTV, thủy sản với 11.653 người mắc và 283 người chết.
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn năm 2006, kết quả điều tra tồn dư hóa chất và kim loại nặng trong một số loại nông sản từ năm 2001 đến nay cho thấy mức tồn dư khá nghiêm trọng: Tỷ lệ các loại rau còn dư lượng HCBVTV trung bình từ 30 đến 63%. Loại thuốc BVTV Pyrethroid tìm thấy dư lượng trong các loại rau ăn lá chiếm 70% số mẫu, còn lại là các loại thuốc Fipronil, Dithiocarbamate, một số loại lân hữu cơ và Carbendazim.
Theo số liệu điều tra của Cục BVTV (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) năm 2005 cho thấy, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật ở các loại quả cũng đáng lo ngại. Tuy nhiên, chưa phát hiện mẫu có dư lượng vượt quá giới hạn cho phép. Các mẫu quả sản xuất nội địa (cam xanh, cam vàng, xoài) đều tìm thấy dư lượng thuốc BTVT nhưng không vượt quá MRLs. Thuốc BVTV tìm thấy trong các mẫu cam Hà Giang là 2,4D với mức dư lượng từ 0,01 đến 0,01mg/kg. Tỷ lệ mẫu nho có dư lượng vượt MRLs là 20%. Tỷ lệ mẫu táo, lê Trung Quốc tìm thấy dư lượng thuốc bảo quản Carbendazim là 45,8%.
Nguyên nhân tồn dư thuốc BVTV trong rau quả
Quản lý, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành danh mục thuốc BVTV và quy định danh mục các loại thuốc BVTV cho rau, các hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV cho rau, nhưng tình trạng sử dụng bừa bãi thuốc BVTV vẫn diễn ra phổ biến. Một số nơi vẫn còn sử dụng các thuốc trừ sâu hóa học đã cấm hoặc hạn chế sử dụng phun cho rau như Monitor. Các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học chưa được sử dụng nhiều.
Công tác kiểm tra, giám sát tồn dư thuốc BVTV trong rau quả: Công tác lấy mẫu kiểm tra ô nhiễm vi sinh vật và tồn dư hóa chất độc hại bước đầu đã được một số tỉnh thực hiện nên đã phần nào có tác dụng cảnh báo cho người sản xuất về nguy cơ ngộ độc do rau sản xuất chưa bảo đảm VSATTP. Tuy nhiên, nội dung này tiến hành chưa thường xuyên, số mẫu được kiểm tra còn ít, nên phản ánh thực trạng sản xuất rau an toàn hiện nay chưa rõ nét.
Thiết lập hệ thống tổ chức kiểm tra giám sát trong toàn ngành và cán bộ làm công tác quản lý chất lượng từ Trung ương đến địa phương chưa được hình thành đồng bộ. Cơ chế hoạt động chưa rõ ràng, kinh phí kiểm tra giám sát, phân tích ô nhiễm vi sinh vật và hóa chất độc hại tồn dư trong nông sản rất ít, nhiều địa phương không phân bố kinh phí. Ðầu tư cơ sở vật chất xây dựng các phòng thí nghiệm mới hình thành ở hai trung tâm thuộc khối Trung ương, các địa phương mới chỉ có một số tỉnh đầu tư một vài bộ dụng cụ kiểm tra nhanh (GT - Test kit và ức chế men theo phương pháp của Ðài Loan - Trung Quốc, một phương pháp kiểm tra định tính đối với các loại thuốc BVTV nhóm lân hữu cơ và nhóm carbamat).
Nhận thức của người nông dân: Hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giao cho các cơ quan bảo vệ thực vật, khuyến nông tổ chức hàng trăm lớp tập huấn sản xuất rau an toàn, tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau nhưng sự chuyển biến nhận thức còn chậm. Việc sử dụng thuốc BVTV không đúng hướng dẫn, không giữ đúng thời gian cách ly, lạm dụng thuốc BVTV vẫn là vấn đề nan giải ở nhiều nơi. Theo số liệu điều tra có tới 70% số hộ nông dân phun 8-12 lần thuốc BVTV cho một vụ rau, 70-80 lần cho một vụ nho. Chỉ có 22,54% số người được hỏi trả lời giữ đúng thời gian cách ly sau phun thuốc. Do lạm dụng thuốc BVTV dẫn đến hậu quả là tồn dư thuốc BVTV trên nông sản thực phẩm vượt mức cho phép.
Vấn đề chế biến thực phẩm
Chế biến thực phẩm ở nước ta có hơn 70% là chế biến thủ công, hộ gia đình, cá thể. Vì thế, điều kiện VSATTP của các cơ sở chế biến thực phẩm loại này hầu hết không đạt yêu cầu.
Số lượng các cơ sở giết mổ gia súc tập trung mới đạt 15%, các tỉnh phía bắc chỉ đạt 2,5%. Giết mổ gia cầm chủ yếu là thủ công, không bảo đảm vệ sinh thú y. Sau giết mổ, việc vận chuyển, bảo quản phần lớn cũng chưa bảo đảm yêu cầu VSATTP. Việc kiểm soát thú y đối với các cơ sở giết mổ tập trung gia súc mới đạt 67,7%, còn đối với các cơ sở giết mổ tư nhân, hộ gia đình hầu như bị bỏ ngỏ; đối với giết mổ gia cầm, mới kiểm soát thú y được 27%.
Dịch vụ chế biến thức ăn đường phố đang ngày càng phát triển ở tất cả các tỉnh, thành phố, các huyện và các xã, phường. Ngộ độc thực phẩm do loại hình dịch vụ này cũng chiếm một tỷ lệ khá cao. Nhiều vụ NÐTP do sử dụng những thức ăn bán rong như bánh dày, kem, bánh mỳ..., đã làm nhiều người chết. Tại các khu du lịch, khu lễ hội, dịch vụ ăn uống cũng bung ra, vừa làm ô nhiễm môi trường, vừa gây mất cảnh quan, văn minh, văn hóa, nhất là gây NÐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm kém chất lượng cho nhiều người tiêu dùng. Ở hầu hết các đô thị, UBND các cấp chưa thật sự quan tâm việc quản lý dịch vụ thức ăn đường phố, còn thả nổi và vì thế nguy cơ mất an toàn không những về sức khỏe mà còn làm ảnh hưởng tới văn minh đô thị, giao thông. Ðặc biệt, các ban quản lý chưa làm hết trách nhiệm, thậm chí còn nhắm mắt làm ngơ các vi phạm VSATTP.
Chế biến thực phẩm cá thể, hộ gia đình cũng là một vấn đề hết sức bức xúc. Tình trạng sử dụng hàn the, phẩm mầu và chất bảo quản độc hại vẫn còn khá phổ biến. Kết quả kiểm tra năm 2006 ở các địa phương cho thấy tỷ lệ giò, chả có hàn the rất cao: trung bình chiếm từ 29-82% số mẫu được kiểm tra, tỷ lệ bún có hàn the chiếm tới 17-24%, tình trạng bánh phở có phoóc-môn vẫn thấy còn phổ biến. Việc sản xuất rượu giả, rượu thuốc, rượu dân tộc... đang có xu hướng gia tăng, làm cho hàng chục vụ NÐTP xảy ra với hàng chục người chết. Các cơ sở sản xuất nước uống đóng chai, nước tinh lọc, nước khoáng bung ra khắp nơi, chưa chuẩn hóa được kịp các loại nước uống cũng như bánh kẹo, rượu, bia trên thị trường.
Vấn đề thực phẩm qua biên giới
Ðối với thực phẩm nhập khẩu chính ngạch, có đăng ký đang được chín cơ quan kiểm tra nhà nước kiểm tra trên phạm vi toàn quốc, cơ bản bảo đảm kiểm soát được ATTP. Song, vấn đề thực phẩm qua biên giới, thực phẩm nhập lậu chưa kiểm soát được còn khá phổ biến như rau quả, gia cầm, trứng, thủy sản, thịt và nội tạng gia súc, thuốc lá, rượu... Ðặc biệt các loại HCBVTV, thuốc tăng trọng, thuốc diệt chuột, các phụ gia cấm còn nhập lậu khá phổ biến. Các cơ quan kiểm tra tại cửa khẩu chưa thống nhất được thủ tục, nội dung kiểm tra, còn chồng chéo và bỏ trống nhiều mặt hàng thực phẩm.
Buôn bán thực phẩm trên thị trường
Theo quy định của Pháp lệnh VSATTP, kinh doanh thực phẩm là kinh doanh có điều kiện, với thực phẩm thuộc 10 nhóm có nguy cơ cao phải được cấp giấy phép đủ điều kiện VSATTP. Song thực tế đến nay, tình trạng buôn bán thực phẩm trên thị trường vẫn gần như bị thả nổi. Hiện tại, Hà Nội mới cấp được hơn 300 giấy phép đủ điều kiện cho các cơ sở thức ăn đường phố, trong khi Hà Nội có khoảng 17.000 cơ sở dịch vụ thức ăn đường phố; thành phố Ðà Lạt cấp được hơn 300 giấy phép cho các cơ sở thức ăn đường phố, còn ở các tỉnh, thành phố khác hầu như chưa thực hiện.
Tình trạng buôn bán thực phẩm và phụ gia tại các chợ cũng đang bị thả nổi. Ban quản lý chợ cũng như chính quyền địa phương chưa có biện pháp nào để kiểm soát vấn đề kinh doanh phụ gia trong chợ. Ở các chợ khác trên phạm vi toàn quốc cũng đều chưa được quản lý về mặt ATTP. Theo quy định, ban quản lý các chợ chỉ cho phép các thực phẩm có nguồn gốc an toàn mới được đem vào chợ bán. Song chưa chợ nào làm được theo quy định. Nhiều gia cầm, sản phẩm gia cầm, hoa quả, bánh kẹo, rượu, các chất phụ gia được bày bán tự do. Có những chợ khi hỏi cần mua hàng tấn hàn the cũng có thể cung ứng đầy đủ sau một thời gian ngắn.
Ðể khắc phục tình trạng trên, bảo vệ sức khỏe nhân dân và phát triển nòi giống, đáp ứng yêu cầu cấp bách khi Việt Nam đã chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, nhanh chóng lập lại trật tự kỷ cương trong việc kiểm soát an toàn thực phẩm "từ trang trại đến bàn ăn", cần thiết triển khai sáu biện pháp cấp bách bảo đảm an toàn thực phẩm sau đây:
Khẩn trương kiện toàn hệ thống quản lý, hệ thống thanh tra chuyên ngành và hệ thống kiểm nghiệm ATTP từ Trung ương đến địa phương có đủ năng lực và biên chế để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.
Tăng cường các biện pháp giáo dục truyền thông về ATTP, nâng cao nhận thức và thực hành của người quản lý, lãnh đạo, người sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm. Ðặc biệt chú ý giáo dục tuyên truyền cho nhân dân thay đổi những phong tục tập quán lạc hậu, phổ biến những kiến thức khoa học trong trồng trọt, chăn nuôi và chế biến thực phẩm an toàn.
Tăng cường năng lực quản lý điều hành các hoạt động bảo đảm ATTP của chính quyền các cấp, các bộ, ngành, cơ quan quản lý điều hành sản xuất, kinh doanh thực phẩm, nhanh chóng triển khai thực hiện các quy định pháp luật trong sản xuất, kinh doanh, nhất là các quy định ATTP tại các khu công nghiệp và khu chế xuất, các trường học, các chợ, siêu thị, các khu du lịch, các nhà hàng, khách sạn, bếp ăn tập thể và dịch vụ thức ăn đường phố.
Nhanh chóng quy hoạch và triển khai các biện pháp bảo đảm ATTP trong trồng trọt và chăn nuôi, đặc biệt cần chú ý bảo đảm an toàn trong sản xuất rau quả, chăn nuôi và giết mổ gia súc, gia cầm, thủy sản, kiểm soát chặt chẽ rau quả, thịt, thủy sản nhập khẩu qua biên giới.
Tăng cường các biện pháp kiểm tra, thanh tra, xử lý thật nghiêm các vi phạm pháp luật đối với người quản lý, lãnh đạo, người sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm. Kiên quyết không để tình trạng buông lỏng quản lý, vi phạm pháp luật xảy ra thường xuyên và kéo dài.
Tăng cường đầu tư về nguồn lực, nhất là về ngân sách, nhân lực và trang thiết bị để đáp ứng được yêu cầu cơ bản kiểm soát ATTP từ Trung ương đến cơ sở.