Muốn trở thành nước thu nhập cao, Việt Nam phải tăng tốc nguồn nhân lực và năng suất

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài trao đổi với phóng viên báo chí bên lề Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển” sáng 20/8, tại Hà Nội.
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài trao đổi với phóng viên báo chí bên lề Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển” sáng 20/8, tại Hà Nội.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần chuyển mạnh từ mô hình dựa vào vốn, tài nguyên và FDI với trình độ công nghệ trung bình sang phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, vốn công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất.

Phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài bên lề Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển”, do Đại học Kinh tế Quốc dân phối hợp Báo Nhân Dân, Tạp chí Cộng sản và Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 20/8 tại Hà Nội.

Phóng viên:Thưa Giáo sư, Tiến sĩ, sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã được công nhận là quốc gia có mức thu nhập trung bình cao. Vậy Việt Nam đã có những nỗ lực và thành tựu nổi bật nào để đạt được kết quả này?

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài: Sau 40 năm Đổi mới, một trong những thành tích rất nổi bật của Việt Nam là đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao. Chúng ta đã vươn lên từ một quốc gia có mức thu nhập rất thấp, dưới 100 USD/người vào thời điểm cách đây 40 năm.

Về cơ bản, Việt Nam đã dựa vào việc huy động vốn, tài nguyên và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ đó, chúng ta tạo ra việc làm, thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao quy mô GDP theo thời gian. Đây là thành tựu khá ấn tượng, nhất là khi xuất phát điểm của Việt Nam là một nước có thu nhập rất thấp.

Tuy vậy, khi bước vào kỷ nguyên mới, chúng ta có khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045. Về tính khả thi, rõ ràng Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi.

Trước hết, Trung ương đã ban hành các nghị quyết quan trọng liên quan công nghệ, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế sâu rộng; đặc biệt là hoàn thiện thể chế, cải cách thủ tục hành chính và xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng. Đây là những trụ cột để Việt Nam hướng tới kỷ nguyên mới và mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao. Trong đó, điều kiện về thể chế có ý nghĩa tiên quyết.

Một điều kiện khác là trong bối cảnh quốc tế, Việt Nam đã hội nhập khá sâu và từng bước nâng lên những nấc thang trong chuỗi giá trị toàn cầu về xuất khẩu. Tuy nhiên, chúng ta sẽ phải thảo luận nhiều hơn về chất lượng xuất khẩu của Việt Nam khi tiến lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Để hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia có thu nhập cao trong hai thập niên tới, điều đầu tiên là vấn đề nguồn lực. Nguồn nhân lực chất lượng cao có tính quyết định đối với việc nâng cao năng suất, nâng cao khả năng hấp thụ công nghệ toàn cầu, từ đó tạo ra sự lan tỏa về công nghệ và tiến tới thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo ra công nghệ của Việt Nam.

Nếu làm được như vậy, tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực chất lượng cao phải gấp khoảng 5 lần so với hiện nay. So với mặt bằng chung của các nền kinh tế mới nổi trong khu vực, tốc độ tăng trưởng về nguồn nhân lực chất lượng cao của họ, chẳng hạn, khoảng 0,5%, trong khi hiện nay Việt Nam mới chỉ khoảng 0,1%. Đây là một thí dụ cho thấy yêu cầu rất lớn trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Thứ hai, trước đây, chúng ta dựa vào việc thu hút FDI với trình độ công nghệ trung bình. Bây giờ, chúng ta phải tạo ra vốn công nghệ, đặc biệt trong kỷ nguyên chuyển đổi số. So với các nền kinh tế mới nổi trong khu vực, tốc độ tăng trưởng đầu tư vào vốn công nghệ của Việt Nam trong hai thập niên tới phải tăng gấp đôi so với tốc độ hiện nay, khi so sánh Việt Nam với các quốc gia mới nổi đã đạt mức thu nhập cao.

Một vấn đề nữa, cốt lõi là từ nguồn nhân lực chất lượng cao, đầu tư vào vốn công nghệ và chuyển đổi số, chúng ta phải tập trung nâng cao năng suất lao động, đồng thời nâng cao năng suất tổng thể của nền kinh tế.

So với các nền kinh tế mới nổi, Việt Nam phải tăng tốc độ tăng trưởng năng suất tổng hợp lên gấp 10 lần. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng trung bình trong hai thập niên trước khoảng 5-6%, nghĩa là chúng ta đã có mức tăng trưởng cao hơn một số nước trong khu vực. Nhưng trong hai thập niên tới, chúng ta phải cố gắng nâng lên ít nhất 8% thì mới có thể đạt được mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045 và những năm tiếp theo.

Đó là những con số rất có ý nghĩa khi dựa trên các bằng chứng, phân tích dữ liệu và so sánh Việt Nam với các quốc gia có nền kinh tế mới nổi đã đạt mức thu nhập cao trước đây.

Phóng viên: Như Giáo sư, Tiến sĩ vừa chia sẻ, Việt Nam cũng phải đẩy mạnh thu hút FDI. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có FDI. Tuy nhiên, để thu hút được nguồn FDI chất lượng cao, đặc biệt từ những doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, theo ông, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện những lĩnh vực nào?

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài: Về FDI, rõ ràng chúng ta đã qua thời kỳ thu hút FDI để tạo việc làm; cũng đã qua thời kỳ thu hút FDI chỉ ở mức độ công nghệ trung bình. Bây giờ, chúng ta phải thu hút FDI có chọn lọc.

Chọn lọc ở đây có nghĩa là chúng ta phải thu hút FDI vào những ngành có công nghệ đột phá, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn... Đồng thời, chúng ta phải đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ các dự án FDI thế hệ mới, với trình độ công nghệ cao hơn và thân thiện với môi trường hơn.

Điều quan trọng là trong những giai đoạn trước đây, việc kết nối giữa FDI và các doanh nghiệp trong nước còn rất yếu. Do đó, một trong những điều kiện then chốt để thu hút FDI thế hệ mới là về mặt thể chế, chúng ta phải tạo ra những quy định mang tính ràng buộc đối với FDI thế hệ mới, gắn với chuyển giao công nghệ cũng như lan tỏa công nghệ tới các doanh nghiệp trong nước.

Qua đó, chúng ta nâng cao nội lực của doanh nghiệp trong nước. Khi doanh nghiệp trong nước được tham gia vào chuỗi giá trị của các doanh nghiệp FDI, khả năng nâng lên những nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp trong nước sẽ khả thi hơn. Đây là một trong những kiến nghị trong nghiên cứu của tôi tại hội thảo hôm nay.

Phóng viên: Giáo sư, Tiến sĩ đã nói nhiều về nguồn nhân lực chất lượng cao. Vậy nguồn nhân lực chất lượng cao nên được hiểu như thế nào? Nhiều người thường hình dung đó là kỹ sư máy tính, kỹ sư công nghệ… còn một công nhân làm việc rất tốt có được xem là nguồn nhân lực chất lượng cao hay không?

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trọng Hoài: Nguồn nhân lực chất lượng cao là một khái niệm được đo lường trong thống kê. Tuy vậy, khi triển khai trong thực tiễn ở bối cảnh Việt Nam, nguồn nhân lực chất lượng cao phải bảo đảm năng lực hấp thụ công nghệ toàn cầu; có khả năng triển khai các ngành công nghệ đột phá và có năng lực đổi mới sáng tạo để tạo ra công nghệ riêng của Việt Nam thì mới gọi là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Một điểm nữa là nguồn nhân lực chất lượng cao phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam. Chẳng hạn, nếu chiến lược phát triển kinh tế-xã hội tập trung vào những ngành công nghệ đột phá, trí tuệ nhân tạo, chất bán dẫn thì chúng ta phải có nguồn nhân lực phù hợp với những ngành đó, gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Nếu chúng ta đào tạo giữa trường, viện nhưng không phù hợp với nhu cầu thực tiễn, không phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, không gắn với thu hút FDI thế hệ mới và không gắn với nhu cầu của doanh nghiệp trong nước thì chưa thể coi đó là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nguồn nhân lực chất lượng cao phải phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động, trong khi thị trường lao động đang biến đổi rất nhanh chóng. Chúng ta phải tính đến nhu cầu của các doanh nghiệp FDI thế hệ mới vào Việt Nam, những ngành mà họ cần nguồn nhân lực chất lượng cao.

Nếu đào tạo không phù hợp, doanh nghiệp sẽ phải đào tạo lại hoặc thuê chuyên gia nước ngoài. Vì vậy, chúng ta phải dự báo được nhu cầu về kỹ năng, kiến thức và công nghệ mà thế giới đang áp dụng, đồng thời đang biến đổi, để đào tạo kỹ năng và kiến thức phù hợp với những công nghệ mà các doanh nghiệp FDI sẽ đưa vào Việt Nam, gắn với các doanh nghiệp trong nước.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ!

Có thể bạn quan tâm