Đây cũng là động lực để vùng cà-phê Tây Bắc chuyển từ mở rộng diện tích sang sản xuất phù hợp điều kiện tự nhiên, nâng chất lượng và phát triển bền vững.
Chuyển từ quảng canh sang sản xuất bền vững
Chia sẻ tại hội thảo trực tuyến “Thúc đẩy sản xuất cà-phê đáp ứng EUDR tại Việt Nam: Chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang sản xuất bền vững tại Tây Bắc” diễn ra chiều 6/10, ông Nguyễn Mạnh Sơn, Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường, cho biết vùng Tây Bắc có những đặc điểm khác biệt đáng kể so với Tây Nguyên - vùng sản xuất cà-phê lớn nhất cả nước.
Hiện Tây Nguyên tập trung hơn 90% diện tích cà-phê cả nước. Nhiều vùng trồng tại đây đã tương đối ổn định, từng bước áp dụng thâm canh, khoa học, công nghệ, trồng xen cây che bóng và các tiêu chuẩn sản xuất bền vững.
Trong khi đó, phần lớn diện tích cà-phê Tây Bắc mới hình thành trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2023, khi giá cà-phê xuất khẩu tăng mạnh. Phần lớn diện tích vẫn được canh tác theo phương thức quảng canh, truyền thống và phụ thuộc nhiều vào nước trời.
Địa hình có độ dốc lớn khiến phương thức canh tác này không chỉ hạn chế năng suất mà còn tiềm ẩn nguy cơ xói mòn, suy thoái đất. Vì vậy, cùng với việc mở rộng diện tích, vùng cà-phê Tây Bắc cần từng bước chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng phù hợp điều kiện tự nhiên, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tại Sơn La, một số mô hình chuyển đổi đang được hình thành như trồng xen cây ăn quả, cây che bóng, sử dụng hệ thống tưới hiện đại và áp dụng các biện pháp canh tác bền vững. Trong đó có mô hình của Hợp tác xã cà-phê Bích Thao và mô hình tưới phun mưa tại một số hộ trồng cà-phê ở xã Mường Chanh được Tổ chức Care hỗ trợ.
Theo tiến sĩ Nguyễn Thế Mạnh, chuyên gia Tổ chức Care, Dự án “Thích ứng xanh và bền vững cho các cộng đồng dân tộc thiểu số tại tỉnh Sơn La” - Mekong Elevate và Care đang hỗ trợ một số mô hình nông nghiệp thông minh hướng tới phát triển cà-phê bền vững.
Hệ thống tưới là một trong những giải pháp có thể mang lại hiệu quả rõ rệt trong bối cảnh cây cà-phê chịu tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu. Mô hình tưới tiết kiệm cho cà-phê Arabica tại Sơn La có thể giúp điều tiết thời điểm ra hoa, tiết kiệm công lao động và cải thiện năng suất.
Khi kết hợp với thảm cỏ dưới gốc và phân hữu cơ, hệ thống còn góp phần duy trì độ ẩm, cải thiện đa dạng sinh học và sức khỏe đất. Tuy nhiên, chi phí đầu tư và nguồn nước vẫn là những điểm nghẽn, nhất là tại những khu vực thiếu nguồn nước hoặc địa hình quá cao, gây khó khăn cho việc lắp đặt và vận hành hệ thống tưới.
Hiệu quả của việc thay đổi phương thức canh tác được thể hiện tại hộ ông Hà Văn Thảo, xã Mường Chanh. Từ năm 2024, gia đình được Dự án CARE hỗ trợ hệ thống gồm tưới nhỏ giọt dưới gốc và tưới phun. Sau một năm, khi so sánh diện tích được tưới với phần diện tích chưa áp dụng, gia đình nhận thấy sự khác biệt về sản lượng và tiếp tục nhân rộng hệ thống tưới trên toàn bộ diện tích sản xuất.
Ở góc độ hợp tác xã, ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc Hợp tác xã cà-phê Bích Thao, cho rằng không thể áp dụng máy móc phương thức canh tác của Tây Nguyên cho Sơn La.
Cà-phê chè Arabica tại Sơn La có những đặc điểm khác cà-phê Robusta ở Tây Nguyên về giống, điều kiện địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng, thời điểm ra hoa và phương thức thụ phấn. Do đó, kỹ thuật tưới và quy trình chăm sóc cũng cần được xây dựng phù hợp đặc điểm từng vùng.
Từ năm 2017, Hợp tác xã cà-phê Bích Thao đã đưa các giống cà-phê mới về trồng tái canh, hướng tới khả năng chống chịu biến đổi khí hậu và kháng bệnh. Hợp tác xã đồng thời tập huấn cho người dân về sử dụng chế phẩm vi sinh, tưới tiêu, tỉa cành, tạo tán và trồng cây che bóng.
Theo ông Thao, năng suất tại một số diện tích của hợp tác xã được duy trì khoảng 25-30 tấn quả tươi/ha; một số giống mới như A16, TN7 có thể đạt 40-45 tấn quả tươi/ha ở những diện tích thâm canh.
Tuy nhiên, năng suất không phải mục tiêu duy nhất. Chất lượng phải đi cùng năng suất để tạo giá trị cao hơn cho sản phẩm, nhất là trong bối cảnh diện tích cà-phê Sơn La tiếp tục mở rộng.
Xác định đúng vùng sản xuất để đáp ứng EUDR
Theo thông tin từ Hợp tác xã cà-phê Bích Thao, tổng sản lượng cà-phê Sơn La có thể khoảng 50.000 tấn nhân xuất khẩu mỗi năm, nhưng cà-phê chất lượng cao và cà-phê đặc sản hiện vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chưa đến 1%.
“Những con số này cho thấy bài toán của cà-phê Tây Bắc không chỉ là tăng diện tích hay năng suất, mà còn là nâng chất lượng và xác định đúng vùng sản xuất”, ông Nguyễn Xuân Thao cho biết.
Với khoảng 40.000ha cà-phê của Sơn La, trong đó phần lớn diện tích vẫn quảng canh và do hộ dân tự sản xuất, việc nhân rộng các mô hình sản xuất bền vững đang đặt ra không ít thách thức.
Theo tiến sĩ Nguyễn Thế Mạnh, qua quá trình nghiên cứu cà-phê tại Sơn La, hiện chưa có một nghiên cứu tổng thể về vùng cà-phê của tỉnh, bao gồm dữ liệu về nhiệt độ, điều kiện sinh thái, tính chất đất, thổ nhưỡng, nông hóa và đặc điểm từng vùng để xác định khu vực thực sự phù hợp với cây cà-phê Arabica.
Không phải khu vực nào của Sơn La cũng có điều kiện giống nhau và đều phù hợp để sản xuất cà-phê Arabica chất lượng cao. Vì vậy, thay vì chỉ nhìn vào khả năng mở rộng diện tích, cần xác định rõ những vùng có điều kiện phù hợp với cây cà-phê.
Về lâu dài, các tổ chức, doanh nghiệp và các bên liên quan cần xây dựng một bộ dữ liệu đầy đủ, chuẩn hóa cho Sơn La, bao gồm số liệu khí tượng, dữ liệu về đất, thổ nhưỡng và các yếu tố liên quan. Đây là cơ sở để đánh giá, xác định những khu vực phù hợp phát triển cà-phê dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn.
Trong bối cảnh EUDR và yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, cà-phê Tây Bắc không chỉ cần chứng minh sản phẩm được trồng ở đâu mà còn phải từng bước trả lời được câu hỏi sản xuất như thế nào, có phù hợp với điều kiện tự nhiên hay không và tạo ra giá trị gì.
Đây cũng là cơ sở để ngành cà-phê Tây Bắc chuyển từ mục tiêu tăng diện tích sang nâng chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của vùng sản xuất, qua đó đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của thị trường quốc tế.