Mười chỉ tiêu kinh tế - xã hội được thực hiện trong 5 năm (2001 - 2005)

1. Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước:

- Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm (2001-2005): tăng bình quân 7,5%/năm (đạt kế hoạch đề ra).

- Năm 2005, GDP bình quân đầu người hơn 10 triệu đồng (tương đương khoảng 640 USD).

- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,4%/năm (kế hoạch 4,8%)

- Công nghiệp và xây dựng giá trị  tăng thêm 10,2%/năm, công nghiệp tăng 16%/năm (kế hoạch 13,1%), xây dựng tăng 10,7%.

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 7,6%/năm (kế hoạch 7,5%)

2. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa:

- Về cơ cấu ngành: Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP tăng từ 36,7% (năm 2000) lên 41% (năm 2005) (kế hoạch 38 - 39%); tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 24,5% xuống còn 20,9% (kế hoạch 20 - 21%); tỷ trọng dịch vụ 38,1% (kế hoạch 41- 42%).

- Cơ cấu kinh tế vùng đã có bước điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng.

- Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực: tỷ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựng trong tổng số lao động xã hội tăng từ 12,1% (năm 2000) lên 17,9% (năm 2005); lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3%; lao động trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 68,2% xuống 56,8%; lao động đã qua đào tạo tăng từ 20% (năm 2000) lên 25% (năm 2005).

- Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Khu vực kinh tế Nhà nước chiếm 38,4% GDP; kinh tế dân doanh chiếm 45,7% GDP (trong đó kinh tế hợp tác và hợp tác xã đóng góp 6,8% GDP); kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 15,9% GDP.

3. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh.

Vốn đầu tư toàn xã hội tăng  vượt mức dự kiến hơn 30% so với kế hoạch (gấp hai lần so với 5 năm trước); vốn đầu tư trong nước chiếm 72% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

4. Thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được xây dựng bước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định:

- Quỹ tiết kiệm tăng bình quân khoảng 9%/năm; quỹ tiêu dùng tăng 7%/năm.

- Thu ngân sách tăng hơn 18%/năm; tỷ lệ GDP huy động vào ngân sách bình quân đạt 23,8%/năm. Tổng chi ngân sách Nhà nước tăng hơn 18%/năm.

5. Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quan trọng:

- Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 5 năm đạt hơn 110,6 tỷ USD, tăng 17,5%/năm (kế hoạch 16%/năm).

- Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 5 năm khoảng 130 tỷ USD, tăng 19%/năm.

- Vốn đầu tư nước ngoài tăng khá, tổng giá trị vốn ODA trong 5 năm qua đạt khoảng 15 tỷ USD (vốn giải ngân đạt 7,7 tỷ USD); tổng mức vốn FDI đăng ký đạt gần 20 tỷ USD (vượt hơn 33% so với kế hoạch); tổng vốn thực hiện 14,3 tỷ USD (vượt 30% so với kế hoạch).

6. Giáo dục và đào tạo có bước phát triển khá:

- Ðến hết năm 2005, có 31 tỉnh đạt tiêu chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học ở bậc tiểu học đạt 97,5%.

- Số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 19,2%/năm, dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm và sinh viên đại học, cao đẳng tăng 8,4%/năm.

7. Khoa học-công nghệ có tiến bộ.

8. Văn hóa - xã hội có tiến bộ trên nhiều mặt, việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội có chuyển biến tích cực, chỉ số phát triển con người được nâng lên.

- Trong 5 năm tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động.

- Ðến cuối năm 2005, tỷ lệ  hộ nghèo còn 7% (kế hoạch là 10%, theo tiêu chuẩn Việt Nam cho giai đoạn 2001-2005).

- Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam từ 68 tuổi năm 1999 đã nâng lên 71,3 tuổi vào năm 2005.

9. Ðại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp phát triển đất nước tiếp tục được tăng cường.

10. Chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được tăng cường, quan hệ đối ngoại được mở rộng, tạo môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội.

Có thể bạn quan tâm