“Một người Mỹ ở Việt Nam hôm nay”

  
* Người "tù binh" trong hòa bình ở Việt Nam

Chụp với một em bé
bán vé số tại Đà Nẵng.

Nước Mỹ đưa tôi đến Việt Nam lần đầu vào năm 1968. Và vợ tôi đưa tôi trở lại đây 30 năm sau. Chuyến đi này mở ra rất nhiều những vấn đề phức tạp.

Nó khiến tôi lìa bỏ gia đình, bạn bè và những tiện nghi có thể thấy rõ ở New York để đến với Đà Nẵng, Việt Nam với một cái nhìn từ trước rằng mình khó có khả năng rời khỏi nơi mà mình đã từng góp phần giết người.

Tôi bắt đầu chương trình học theo kiểu này lần đầu tiên ở Việt Nam cho các sinh viên Mỹ vào năm 1999. Chuyến đi có tính cách cá nhân của tôi bắt đầu liên quan đến chương trình gửi các sinh viên Mỹ đến ở Đà Nẵng ba hoặc bốn tháng để nghiên cứu hoặc làm một cái gì đó cho người nghèo. Thật ra chuyến đi này đã bắt đầu từ 30 năm trước chương trình này, nó bắt đầu với việc giết chóc trong một thung lũng.

Nỗi thống khổ của chiến tranh

Cái đêm tháng 12-1968 ấy đã tượng trưng cho sự kinh hoàng không thể nào tả xiết. Thung lũng Hiệp Đức là một vùng quê rộng lớn ở phía tây nam Đà Nẵng, được bao quanh bởi những rặng núi cao nhọn hoắt, hình răng cưa và một dòng sông. Trên đó có những cánh đồng trồng lúa, những nếp nhà nhỏ và một cánh rừng hoang. Những ngọn núi cao dốc đứng, nằm kề ngay cạnh thung lũng như một điều cấm đoán những chuyện đầu rơi máu chảy bởi vì chúng bao giờ cũng toát lên một vẻ đẹp như trong thời bình.

Tôi là một người lính trong một trung đội bộ binh vào cái đêm năm 1968 ấy. Chúng tôi mất cả ngày ròng rã hành quân từ ngôi nhà này sang túp lều khác trong thung lũng, để thu thập thông tin về sự di chuyển của quân địch. Đêm yên lặng và căng như một sợi dây đàn. Chúng tôi ngồi thành một vòng tròn đợi trời sáng. Không có trăng, bóng đêm dày đặc đến nỗi khó có thể nhìn được người ngồi sát bên cạnh.

Một vài người chợp mắt trong một giấc ngủ chập chờn đầy âu lo. Những người khác đứng gác, căng tai ra chờ đón bất cứ một sự chuyển động hay một thứ âm thanh nhỏ bé nào. Sự im lặng đột nhiên bị phá vỡ bởi một tiếng rú thành từng hồi vì đau đớn.

Ai nấy nhảy dựng lên cảnh giác. Tiếng la hét kéo dài trong bóng đêm mịt mùng là của một ai đó - một ai đó như ở gần đâu đây, một người nào đó đang kinh qua các tầng địa ngục - đã làm tất cả những người lính chúng tôi kinh hoàng... Tiếng rú kéo dài trong vòng một giờ mà tưởng chừng như vô tận, nó không hề dịu đi. Rồi sự im lặng trở lại, nhưng cơn ớn lạnh vẫn tiếp tục chạy dọc sống lưng tôi, lúc này trở nên rờn rợn bởi sự im lặng.

Trời hửng sáng, cả trung đội từ từ di chuyển về phía có tiếng kêu đêm qua. Từ từ chúng tôi đi xuống một địa hình thấp, loang lổ vết máu và thấy một người đàn ông hoặc cái còn lại của một con người. Một thân hình bầm dập trông chỉ như một cái xác. Khuôn mặt dúm dó trong một nỗi đau đông cứng lại. Anh ta trân trân nhìn chúng tôi từ trong một nỗi đau không lời nào tả được. Không ai nói tiếng nào.

Bằng ấy người run rẩy. Không có một câu hỏi nào đặt ra về việc anh ta là người phe nào, chiến đấu cho ai, phía bên nào đã làm cho anh ta thành như vậy và lý do tại sao. Nỗi thống khổ của người này đại diện cho chiến tranh, chứ không phải cho một lá cờ cụ thể nào.

Cuộc chiến vẫn tiếp tục sau cái đêm ấy với tất cả sự tàn bạo của nó. Chiến tranh, bản thân nó đã là một cái gì hết sức tàn bạo. Những người tôi đã giết chết - tôi nghĩ - cũng sẽ giết tôi nếu như đó là nhiệm vụ của họ. Và điều đó thật dễ dàng đối với họ. Trong thực tế tôi đã không biết điều đó lại dễ dàng như thế cho đến khi tôi quay lại nơi này mấy chục năm sau.

Rồi tôi khám phá ra sự lựa chọn thật sự của phía bên kia, một sự lựa chọn có ý thức - họ đã để cho tôi sống. Một cách lạ lùng nào đó, điều này đã củng cố nhận thức trong tôi rằng tôi chưa bao giờ rời khỏi Việt Nam.

Người phục sinh ở nơi tưởng rằng đã chết...

Hầu hết sinh viên tham gia chương trình Suny Brockport được sinh ra thật lâu sau khi thành phố này cùng những ngọn núi xanh xanh bao quanh ngoài kia và những cánh đồng đã thấm đẫm máu của những người đã chết. Phần lớn người Việt Nam hiện nay cũng ra đời sau khi chiến tranh kết thúc.

Bảo tàng Chứng tích chiến tranh chỉ trở nên nhộn nhịp vào lúc các em học sinh theo thầy cô đến thăm trong một buổi dã ngoại, hoặc khi có những đoàn du khách nước ngoài. Thường thì nó rất vắng vẻ, chỉ là nơi nhắc nhở về chiến tranh trong một vài hội thảo.

Một quan chức cao cấp trong chính quyền thành phố đã nói với tôi: “Chúng tôi cố gắng để quá khứ lại phía sau, nhưng điều đó không phải bao giờ cũng dễ dàng. Hậu quả của chiến tranh bao quanh tất cả chúng tôi.”

Chương trình giáo dục này không phải về chiến tranh. Nó là về một đất nước. Không phải về sự hủy diệt. Nó chính là việc xây dựng một cây cầu giữa những con người bị chia cắt bởi lịch sử. Tác động của nó lên cá nhân tôi là mở ra những cánh cửa mà từ lâu đã đóng lại.

Tuy vậy, nó không chỉ là một chương trình học tập thuần túy. Chính người dân Đà Nẵng đã mở ra những cánh cửa ấy. Một lần tôi đi qua những cánh cửa ấy và nhận ra rằng trong khi tôi chưa bao giờ là một tù binh trong chiến tranh, tôi lại có thể là một tù binh trong hòa bình ở Việt Nam. Tôi cũng không chắc là tôi có muốn được giải phóng hay không nữa. Nhưng tôi biết chắc rằng một cái gì đó ẩn giấu trong sự tự do thật sự có thể tìm thấy ở đây. Đó là một cuộc hành trình đầy khó khăn.

Tiến sĩ John Perry, giám đốc chương trình giáo dục quốc tế tại Suny Brockport, đã nhận lãnh vai trò lãnh đạo và dấn thân vào công việc liều lĩnh đầy sáng tạo trong khi phát triển chương trình này, một hành động mà những người khác với một trình độ học vấn cao có thể cho là quá liều lĩnh. Sự khoan dung của ông đối với tôi, nhiệt tình của ông trong việc cắt giảm các chương trình học quốc tế khác để dành ưu tiên cho chương trình ở Việt Nam đã nói lên một cách hùng hồn về bản thân ông và những người cộng sự.

Một vị lãnh đạo khoa trong trường đại học của chúng tôi đã chống lại việc phát triển chương trình này bằng câu nói: “Tôi không nghĩ là chúng ta nên có bất cứ chương trình nào ở Việt Nam. Đó là một đất nước nghèo đói, bẩn thỉu đã giết chết hơn 58.000 người Mỹ.” John đã phớt lờ thái độ thiếu thiện chí ấy, tìm mọi cách xúc tiến chương trình.

Chương trình du học ở Việt Nam của Đại học bang New York là một khóa học ở nước ngoài đặc biệt. Sinh viên học những giáo trình mang lại cho họ một hiểu biết nào đó về Việt Nam, giúp họ phát triển những kỹ năng giao tiếp với người Việt và tạo cho họ cơ hội giúp đỡ những người nghèo. Đa số sinh viên học là để biết rõ hơn về bản thân mình.

Thật là một viễn cảnh khó tin về việc học hỏi từ những người bị bệnh hủi, những đứa trẻ lang thang trên hè phố, những người sống trong các bãi rác, những người dân miền núi nghèo khổ, những người già neo đơn sống trong trại dưỡng lão, những nạn nhân chất độc màu da cam và trẻ mồ côi. Vậy mà đấy lại là những nhà giáo dục còn giỏi hơn cả những giáo sư đại học.

Mỗi năm học có ba khóa và các nhóm sinh viên khác nhau lần lượt sang học ở Việt Nam. Cụ thể là ở Đà Nẵng, được coi là thủ phủ của miền Trung, nơi những cơ hội đầu tư về kinh tế và du lịch đôi khi bị bỏ qua.

Đà Nẵng đưa ra những thách thức đặc biệt đối với những người nước ngoài. Trong thời gian chiến tranh, tôi chủ yếu sống ở một vùng quê hẻo lánh và chỉ ghé qua thành phố này một cách chớp nhoáng. Trong ký ức của tôi đó là một nơi đầy rẫy những người Mỹ, nơi liên tục vang lên tiếng gầm rú của máy bay phản lực, hàng ngàn máy bay trực thăng hạ cất cánh không ngớt trên bầu trời.

Bây giờ nó lại trao một phần thưởng tuyệt vời cho những ai có con mắt nhìn thấy một cái gì khác hơn là những đường phố hẹp, chật chội, lồi lõm, một thành phố thỉnh thoảng lại bị mất điện, những cái hố ở hai bên đường, sự nghèo đói, độ ẩm cao và những cơn bão thường xuyên quét qua...

Thành phố này tạo ra những hiểu biết về đặc tính và sự phong phú của một nền văn hóa, truyền thống của một đất nước, nơi hòa bình có được với một giá cực đắt. Nó tạo cho cuộc đời những cơ hội thay đổi cho những ai có máu phiêu lưu.

Nó được tạo ra cho tôi, ít hơn với tính cách của một tâm hồn thích phiêu lưu, và nhiều hơn với cảm giác rằng tôi đã chết ở một miền ven biển cách Đà Nẵng khoảng 70km về phía tây nam vào những năm cuối cùng của thập kỷ 1960, và kỳ lạ thay tôi lại sinh ra một lần nữa vào cuối thập kỷ 1990...

“Gần cái nơi mà tôi cảm thấy mình đã chết, tôi lại phục sinh lần nữa” - người cựu chiến binh Mỹ nói điều đó một cách chân thành khi trở lại Việt Nam năm 1998. Ông gọi hành trình của mình là một sự trở về. Về để quên đi một nỗi ám ảnh, nhưng vùng đất nhỏ hẹp ấy cứ nhắc ông phải nhớ...

Tác giả quyển sách “Một người Mỹ ở Việt Nam hôm nay” (xuất bản tại Mỹ năm 2003) là Kenneth J. Herrmann, phó giáo sư Đại học bang New York (SUNY) ở Brockport, Giám đốc chương trình Việt Nam của Suny, từng tham chiến ở Quảng Nam - Đà Nẵng cuối những năm 1960 ác liệt.

Năm 1998, ông trở lại chiến trường xưa và rồi gắn bó với mảnh đất này bằng những chương trình xã hội với sự tham gia của các sinh viên Suny.

Quyển sách kể lại sự trở về Việt Nam của một cựu binh, người nhận ra “mình chưa từng rời khỏi nơi đây”...

*Trở lại “thung lũng Chết”

K.Herrmann những ngày
ở Việt Nam, năm 1968.

Tôi trở lại Việt Nam vào năm 1998 để đến cái vùng trung du cách Đà Nẵng về phía tây nam khoảng 70km. Kể từ lần trước đến nay dễ cũng cả nửa đời người.

Tôi quay lại Việt Nam với thái độ dè dặt. Tôi biết là tôi sợ phải đối mặt với nơi này. Ký ức của tôi tràn đầy những hình ảnh về những trận đánh đẫm máu, sự tuyệt vọng, nỗi nhớ nhà và một sự hủy diệt. Nên tôi hiểu việc  tôi một lần nữa lại đặt chân đến Việt Nam có ý nghĩa gì.

Ngày ấy, một cô bé 10 tuổi...

Khi tôi trở lại Hiệp Đức, nơi tôi đã sống trọn một năm vào cái tuổi 20 ấy, tôi không hề nhận ra nó. Ba thập kỷ đã trôi qua, cây nhỏ đã mọc thành rừng rậm. Trong không trung không còn cái mùi của chất hóa học làm cây rụng lá (nhưng vẫn còn nghe thoảng mùi thối rữa trong không gian và tôi được nghe nói rằng đó là dioxin - một loại chất làm cây xanh rụng lá). Napalm và bom đạn đã cho phép thiên nhiên giấu đi sự tàn phá của chiến tranh.

Tôi biết đây là ngôi làng cũ khi tôi nhìn thấy dòng sông quen thuộc, ngọn đồi nhỏ nơi tôi đã sống trong một cái hố được đắp bởi những bao cát và ống cống. Những ngọn núi bao quanh tôi là nơi máu của người Việt Nam và người Mỹ đã tưới xuống. Đây là nơi các truyền thuyết trong vùng nói rằng nó tràn ngập vong hồn của hàng ngàn người đã chết vì tự do của Tổ quốc, và họ không được yên nghỉ dưới mồ.

Hiệp Đức còn được đề cập đến như là một “thung lũng Chết”, đó là một khu vực bình định giống như khu vực định cư của người da đỏ. Đội quân Mỹ đổ bộ xuống đây để ngăn cản lực lượng giải phóng khi họ vượt qua vùng núi đồi này để tấn công các thành phố ven biển cách đấy khoảng 30 dặm.

Tôi chỉ là một lính quân dịch. Tôi được đào tạo để điều khiển máy viễn ký radio, thế mà lại được điều về một đơn vị bộ binh không có loại máy này, và được giao nhiệm vụ điều khiển điện đàm vào ban đêm ở trung tâm chỉ huy tiểu đoàn ở một nơi gọi là LZ West. LZ West là một ngọn đồi cao khoảng 435m, đi từ đây đến phía tây Đà Nẵng phải mất hai giờ. 

Khi chúng tôi bắt đầu bình định khu này, có một đơn vị gồm các kỹ sư quân đội Mỹ có nhiệm vụ làm một con đường giao thông dẫn đến vùng này. Tôi đã trải qua một đêm với họ, lọt giữa các máy bay chuyên chở binh sĩ và các máy ủi.

Sáng hôm sau một ông già tìm đến cùng với một người phiên dịch. Ông già kêu khóc, hấp tấp nói với giọng bấn loạn. Đứng cạnh ông là một cô bé khoảng 10 tuổi, dáng lừ đừ mệt mỏi, khuôn mặt buồn bã cứ cúi gằm xuống đất. Người phiên dịch cho tôi biết ông già là ông nội của đứa bé. Ông già muốn chúng tôi làm một việc gì đó.

Ông tố cáo rằng cháu nội ông đã bị hai tên lính Mỹ trong đơn vị của chúng tôi hãm hiếp. Tôi đặt ra vài câu hỏi với hai ông cháu thông qua người phiên dịch. Cô bé chỉ vào hai người kỹ sư trong bọn và khóc tức tưởi.

Viên đội trưởng nhóm kỹ sư quân đội đi đến hỏi xem có chuyện gì. Tôi kể vắn tắt cho hắn biết. Hắn nói giọng lạnh tanh:

- Hãy bảo chúng cút khỏi đây. Chỉ là chuyện ba láp. Chẳng ai làm gì con bé hết. Chúng chỉ muốn moi tiền thôi. Chúng tưởng cứ mè nheo là được tiền.

Người phiên dịch thì thầm với tôi:

- Con bé nói rằng bọn lính đã chụp ảnh vụ hãm hiếp.

 Tôi bảo cô bé chỉ cho tôi xem nơi sự việc xảy ra và nó dẫn chúng tôi đến một cái lều được làm bằng vải dù. Tôi đi vào lều, tìm được hai tấm ảnh chụp lấy liền cảnh hai tên súc sinh nham nhở đang hiếp đứa trẻ và đưa cho tên đội trưởng.

Hắn nổi cáu:

- Điều đó không có nghĩa gì hết. Tôi đã bảo anh hãy đuổi cổ chúng đi.

Tôi cũng chẳng vừa, tôi nổi đóa, hét vào mặt hắn:

- Mày nói cái quái gì vậy? Chúng nó đã hiếp đứa trẻ này và chụp ảnh. Tao phải sống chung với lũ mặt người dạ thú như thế ư? Mày không có cách nào lấp liếm chuyện này đâu.

Một tên trung sĩ quèn như tôi mà lại dám cãi nhau với một đại úy, nhưng tôi cóc cần. Cuối cùng tôi bảo hắn là tôi sẽ báo cáo chuyện này lên với đại tá chỉ huy tiểu đoàn.

- OK - tên đại úy nói.

Hắn đi đến máy bộ đàm và gọi cho một ai đó. Nửa tiếng sau, một chiếc máy bay trực thăng đáp xuống cùng với hai cảnh sát quân đội lôi đi hai kẻ hãm hiếp. Tên đại úy tỏ vẻ không quan tâm, hắn quay lại làm việc khi chiếc máy bay trực thăng bay đi. Hai ông cháu tội nghiệp lủi thủi bỏ đi. Tôi thường băn khoăn tự hỏi không biết chuyện gì xảy ra với hai tên súc sinh đó. Nhưng điều tôi quan tâm hơn là chuyện gì sẽ xảy ra đối với cô bé mới 10 tuổi đầu này.

Người quen cũ ở Việt Nam

Chuyến trở về Việt Nam đầu tiên của tôi không phải là ý định của tôi. Kathy đã khuyến khích tôi làm chuyện này.

Cô ấy đã chứng kiến cảnh tôi nhìn thấy Việt cộng bước qua phòng ngủ của chúng tôi, tình trạng bấn loạn bồn chồn và những cơn ác mộng diễn ra suốt đêm, sự đương đầu đầy giận dữ của tôi với giới quan quyền, và sự nóng nảy của tôi đối với mọi hình thức bất công.

Cô từng thấy cảnh trong lúc mơ ngủ tôi bò lồm cồm quanh giường để tránh đạn của kẻ thù. Cô thấy phản ứng sợ hãi của tôi vào những lần tôi thấy Việt cộng đứng ngay ở cuối chân giường khi tôi lên giường đi ngủ.

Cô cũng thấy sự phẫn uất của tôi trong trường hợp các phiên tòa, các tổ chức chính phủ vi phạm quyền con người hoặc từ chối không đưa ra một sự giúp đỡ tích cực đối với những người cần giúp đỡ...

Cô nhìn thấy giá trị của việc tôi trở về Việt Nam bởi vì cô yêu tôi...

Trở về Tân An - tên của ngôi làng ngày hôm nay - lần đầu tiên, tôi đặt ra nhiều câu hỏi đối với các quan chức địa phương trong cố gắng có được câu trả lời cho những vấn đề về những ngày tháng của tôi ở đây.

Có ai đã trải qua thời kỳ chiến tranh mà vẫn còn sống ở đây không? Có ai còn nhớ gì khi hồi hương về vùng này vào khoảng cuối những năm 1960 không?

Trong đám đông có một người đàn ông lên tiếng vừa cười vừa nói một điều gì đó với người phiên dịch. Hướng dẫn viên du lịch dẫn người đàn ông tươi cười đến chỗ tôi, giải thích rằng tên người đàn ông này là Lê Quang Ngữ.

Ngữ nói đã nhận ra tôi và nhớ về tôi trong những ngày tháng mà cho đến nay vẫn ám ảnh ký ức tôi. Ngữ 16 tuổi khi tôi đến Việt Nam lần đầu và là một trong những người đã đi tìm chỗ trú ẩn giữa lúc những trận đánh dữ dội đang xảy ra. Mặc dù không nhớ được một chút gì về anh,  trong tôi vẫn tràn ngập cảm xúc như khi ta gặp lại một người thân sau bao ngày xa cách.

Anh đã có mặt ở đây cùng một khoảng thời gian với tôi. Anh có mặt ở đây khi những người đói bòn mót từng hạt thóc dưới đám bùn lầy, hoặc ăn rễ cây, hoặc uống nước tanh tanh mùi bùn mà sống còn để mà tồn tại. Anh có mặt ở đây đúng vào giai đoạn có một cô bé bị một mảnh đạn lạc phạt vào sau gáy.

Tôi ẵm cô bé lên một chiếc trực thăng để mang về Đà Nẵng. Cô bé nhìn tôi, ánh nhìn đờ đẫn, nhưng lại thấu suốt tâm hồn tôi. Đó là một trong số ít lần trong chiến tranh khiến tôi bật khóc.

Anh ở đây khi chúng tôi chở đi cái có vẻ giống như một dòng chảy liên tục - những đứa trẻ bị bệnh sốt rét - trên những chiếc máy bay trực thăng bay về Đà Nẵng để điều trị trước lúc quá muộn. Anh ở đây khi chúng tôi gửi một nhóm 15 người bị bệnh hủi đang trốn trong vùng này đến Đà Nẵng để chuyển đến cái làng dành riêng cho họ. Cũng là cái nơi mà tôi muốn đến để biết rõ hơn, nhiều năm sau đó.

Anh ở đây vào lúc mà mảnh đất này trải qua cảnh đầu rơi máu chảy và nỗi kinh hoàng trong luyện ngục không phải là chuyện chỉ xảy ra trong tưởng tượng. Anh lại ở đây khi tôi trở về 30 năm sau. Anh còn nhớ được tôi trong số những người lính Mỹ xâm lược là bởi cái tẩu lúc nào cũng gắn bên miệng tôi, cặp mắt kiếng và (như lời anh nói) tiếng cười ông ổng của tôi. Anh là người lịch sự nên anh đã không nhắc đến cái đầu hói của tôi.

Vợ anh bán đồ tạp hóa lặt vặt ở một cái quầy bên lề đường trong khu chợ Hiệp Đức. Cả hai anh chị đều rất yêu con. Gặp lại họ đối với tôi cũng là một cách nhắc nhở rằng quá khứ vẫn còn đó. Nhắc tôi nhớ rằng tôi chưa bao giờ rời Hiệp Đức vào năm 1969 và có lẽ tôi cũng sẽ không thể rời khỏi nơi này được. Tôi chỉ giả vờ là nó thuộc về lịch sử.

Lịch sử có giá trị chia sẻ với sinh viên Mỹ. Họ có thể đến thăm Ngữ để hiểu một chút gì đó về cuộc chiến tranh ở Việt Nam và đất nước Việt Nam. Các sinh viên Mỹ chia sẻ nỗi đau với anh khi anh miêu tả lại việc anh mất mẹ trong thời kỳ chiến tranh như thế nào.

- Mẹ tôi đang ở trong một bệnh viện bên kia thung lũng thì máy bay Mỹ dội bom xuống. Chúng tôi không tìm được bất cứ mảnh xác của bà để mai táng cho tử tế. Chết mất xác là nỗi đau ghê gớm đối với người Việt Nam chúng tôi. Vì thế mà vong hồn của bà vẫn không được đầu thai cứ phải lang thang vô định trên mảnh đất này mãi mãi.

Học sinh của chúng tôi sẽ hiểu về chiến tranh nhiều hơn là Hollywood có thể cho họ biết và chắc chắn là hơn những giáo viên dạy ở cấp III...

Chiến tranh đã lùi lại ở phía sau lưng. Nhưng với nhiều cựu chiến binh Mỹ, tất cả những biến cố đau lòng của những tháng năm tàn khốc ấy, một cách nào đó, đã dẫn đến những chuyện xảy ra hơn 30 năm sau. Rick Bradshaw là một sự tiếp nối như thế khi trong bài thơ cuối cùng ông muốn tro tàn của thân xác mình được rải lên sông núi Việt Nam, “Và dòng nước của trời sẽ gột rửa tâm hồn tôi...”.

* Nghi lễ chữa lành vết thương

Ở nghĩa trang liệt sĩ.

Có một nghi lễ khác thường đã diễn ra vào ngày 19-1-2001 (được lặp lại vào một năm sau đó) như là một phần của chương trình giáo dục.

Ở nghĩa trang liệt sĩ

Một viên chức chính phủ ở Hà Nội bảo với tôi rằng có một nhóm cựu chiến binh Mỹ đã từ chối không bước vào một nơi như thế. Người cán bộ đi tháp tùng nhóm du khách này yêu cầu họ bước vào một nghĩa trang liệt sĩ. Những cựu chiến binh này đã từ chối. Người hướng dẫn bảo họ với một nụ cười kiên nhẫn:

- Chúng ta cùng tham gia trong cuộc chiến tranh này và cùng phải chịu đau khổ về nó. Tuy vậy ở đây có một sự khác biệt. Các ông đến để giết gia đình tôi. Còn tôi chiến đấu để bảo vệ họ.

Chúng tôi đi xe mất khoảng hơn một tiếng, vào sâu trong núi trên những con đường gập ghềnh đầy ổ gà. Chiếc xe đầy chặt những sinh viên Mỹ và cán bộ địa phương. Cả xe im lặng khi đến gần đích, ngôi làng ở chốn rừng sâu trong thung lũng cuối cùng đã ở trước mặt chúng tôi. Chợ Quế Sơn bày bán đầy hoa quả trái cây và những quầy hàng chạp phô.

Nghĩa trang mà chúng tôi đi đến đã xuống cấp, nhưng ở một khía cạnh nào đó vẫn có một vẻ uy nghiêm với bức tượng các chiến sĩ giải phóng vượt lên trên những ngôi mộ ximăng sơn màu đỏ và vàng, nhưng bức tường bao quanh quét vôi màu vàng đã phai màu với cánh cổng gỉ sét. Có khoảng hơn mười ngôi mộ dãi dầu mưa nắng.

Không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là những gì còn lại của những người có thể đã “đón chào” tôi đến đây để rồi lại chết đi trên mảnh đất của họ 30 năm về trước. Có nhiều người chết đi mà không để lại danh tính, người ta nói rằng một số đã bị lính Mỹ chôn sống.

Có một cái gì đó thật trớ trêu khi tôi lại đến đây đặt hoa trước ngôi mộ của họ, thắp nhang trước vong hồn của họ, tưởng niệm những chiến sĩ đã chiến đấu và hi sinh cho niềm tin của họ. Tôi hồi hộp và chỉ muốn làm tiếp tục nghi lễ này. Nó có vẻ như là việc phải làm. Tôi biết không phải mọi người sẽ đồng ý với tôi và sau này tôi đã tìm ra sự thật.

Một số cựu chiến binh Mỹ gửi những lá thư chửi bới nặng nề tiếp sau bài báo mà tôi viết để mô tả chi tiết sự kiện này. Một cựu trung tá hải quân ở Rochester, New York đã lớn tiếng gọi tôi là “một kẻ phản bội lại nước Mỹ, kẻ đã làm nhục tất cả những người chiến đấu cho tự do”. Ông ta nói thêm: “Thật quá tồi tệ cái việc chúng ta đã không giết thêm nhiều đứa nữa trong chiến tranh.”

Tôi cũng không biết là liệu những lá thư căm thù kiểu này có ngang bằng với những lá thư thể hiện tình yêu đối với dải đất Việt Nam và con người ở đấy không. Những lá thư ấy giúp tôi hiểu rõ hơn về bản thân, về tầm quan trọng của việc để cho chiến tranh lùi lại sau lưng chúng ta. Có quá nhiều người dường như không có khả năng chấp nhận hòa bình và sự hiểu biết. Cũng có quá nhiều người trong lòng vẫn tràn ngập một sự căm hận tích lũy từ trong chiến tranh.

Các cán bộ địa phương cũng gia nhập đám cựu binh và các sinh viên Mỹ. Tôi cầm hoa và chúng tôi bước đi cố tỏ ra thật nghiêm trang nhưng không khỏi có phần vụng về, đến trước bức tượng ở trung tâm nghĩa trang. Nhân viên trong chương trình của chúng tôi đưa cho chúng tôi mỗi người một nắm nhang để chúng tôi đốt lên.

Đôi tay tôi run rẩy, hai đầu gối nhũn ra khi tôi cúi xuống vái trước các ngôi mộ để tưởng niệm vong hồn của những người đã hy sinh. Tôi có thể ngửi thấy mùi xác chết trong không khí, cũng cái mùi trở nên nặng nề sau mỗi trận đụng độ giữa hai bên, cái mùi chết chóc ấy dai dẳng bám theo bạn. Sau đó là tiết mục đọc diễn văn. Bài nói chỉ diễn ra trong vài phút. Tôi đã cố không để cho tờ giấy trên tay run rẩy.

Sự hồi hộp làm tôi cảm thấy mệt lả. Dường như sự tĩnh lặng nơi đây đã đưa cả hai tay ra để giữ lại không khí đầy hơi ẩm và làn sương mù này. Khi tôi nói xong, sự im lặng trở nên không thể chịu đựng nổi. Cứ như thể tôi trở lại những cánh rừng trong chiến tranh, đợi một âm thanh nhỏ nhất báo hiệu cho tôi biết sự hiện diện của quân địch, trong lúc họ đang từ từ bò về phía tôi...

Những vong hồn từ trong quá khứ ám ảnh mảnh đất này và dường như đang đứng nhìn chằm chằm chúng tôi, đưa ra một lời phán quyết về những việc đã làm. Tôi gần như nghe thấy họ đang thì thầm tán thưởng. Có thể đó chỉ là tiếng nói của lương tâm tôi.

Và dòng sông Thu Bồn sẽ gột rửa tâm hồn tôi...

Pat Bradshaw, một cựu sinh viên đã tốt nghiệp ở trường đại học tôi dạy 15 năm về trước, gọi cho tôi. Cô hỏi chuyện về chương trình du học ở Việt Nam mà tôi phụ trách. Sau khi nói chuyện được một lúc, tôi cảm thấy dường như lời của cô trở nên thiếu mạch lạc. Rồi cô nói rõ lý do thật sự của cú điện thoại.

- Ken ạ, tôi không biết tôi nói ra có phải là điều không ăn nhập gì không, nhưng anh có thể giúp đỡ gia đình chúng tôi. Chồng tôi là một cựu chiến binh ở Việt Nam. Anh ấy chết mùa hè năm ngoái vì bệnh tim. Thật sự là một cú sốc mà chúng tôi không hề lường trước. Tuy vậy anh nên biết rằng chồng tôi cũng là một nhà văn. Anh ấy đã viết một vở kịch về chiến tranh, một vài bài báo và cũng làm thơ nữa. Khi lũ nhỏ và tôi soạn mớ giấy tờ anh ấy để lại, chúng tôi đọc được một bài thơ anh đã làm. Trong bài thơ anh bày tỏ ý nguyện của mình rằng sau khi chết anh muốn tro của mình được rải ở Việt Nam. Anh yêu đất nước này. Còn chúng tôi thì rất yêu anh và muốn tôn trọng ý muốn cuối cùng ấy.

Cô dừng lại, hít một hơi thật sâu và nói thêm:

- Anh cho biết việc này có thể làm được không?

Khó có thể được nói ra điều này một cách nghiêm chỉnh. Tôi chưa bao giờ nghe thấy một việc như thế. Hầu hết thảo luận về các cựu chiến binh và Việt Nam chỉ liên quan đến vấn đề tìm hài cốt người Mỹ để mang về quê nhà. Chưa hề có việc nói đến chuyện mang tro của một cựu chiến binh đến rải ở Việt Nam.

- Pat à, chị cho tôi một khoảng thời gian để xem xét điều này. Tôi sẽ có câu trả lời sớm.

Những việc tiếp theo là gửi một đề nghị đến các viên chức Bộ Ngoại giao của Đại sứ quán Mỹ ở Hà Nội. Tôi nhận được câu trả lời là từ trước đến nay chưa hề có chính sách nào về việc này bởi vì chưa từng có ai đưa ra một yêu cầu như thế. Tôi tham khảo cả ý kiến của Đại sứ quán Việt Nam ở Washington. Hình như tất cả những nỗ lực này cũng chẳng dẫn đến một câu trả lời cụ thể nào cho yêu cầu của Pat.

Cuối cùng tôi đi đến một quyết định là đích thân tôi sẽ rải tro của Rick trong chuyến đến Việt Nam lần tới...

Chiếc xe chạy về phía một ngôi làng định cư cũ của Hiệp Đức, bây giờ gọi là Tân An thuộc huyện Hiệp Đức. Cơn mưa nhỏ đã trở nên nặng hạt từ đêm hôm trước và con đường đến Quế Sơn rất xấu. Đường đến Tân An còn xấu hơn nữa.

Bánh xe cứ trượt vào những ổ gà đầy nước sền sệt và nắp đậy trục bánh xe dính bê bết bùn đất, người ta phải kêu lên để hướng dẫn người tài xế lái xe qua những hố nước nguy hiểm cũng giống một điều phái viên hướng dẫn một phi công. Chiếc xe chậm chạp dừng lại trước một túp lều nhỏ giống như mọi ngôi nhà khác trong khoảng 20 ngôi nhà ở đây.

Từ trong một ngôi nhà nhỏ bằng gỗ như vậy, một người đàn ông độ tuổi giữa 40 tươi cười bước ra. Ông đưa tay vẫy vẫy và tôi nhảy xuống xe chạy đến chỗ anh. Chúng tôi bắt tay, ôm nhau như những người bạn cũ. Thật vậy, chúng tôi là những người bạn cũ mặc dù tôi mới chỉ gặp anh cách đây hai năm. Lê Quang Ngữ và chúng tôi nói chuyện với nhau một lúc.

Sau đó tất cả đi về phía bờ sông. Những sinh viên người Mỹ, bạn bè tôi và cả tôi nữa vừa đi vừa trượt dài trên những bờ dốc đất đỏ nhão nhoét, tiến về phía bờ đá của dòng sông Thu Bồn.

Sự im lặng căng như sợi dây đàn. Tôi bước trên những tảng đá chìa ra trên mặt nước rồi móc từ trong túi quần ra một túi vải nhỏ.

- Đây, nó đây rồi Rick - tôi thì thầm.

Với đôi tay run rẩy, tôi lấy bài thơ của Rick từ túi quần bên kia. Tôi cầm bài thơ bằng cả hai tay và cất giọng đọc lớn:

...Nếu một ngày kia tôi chết

Tôi muốn tro tàn xác thân tôi

Theo gió núi rải đi khắp cao nguyên Việt Nam.

Từ nơi này tâm hồn tôi

Sẽ dõi nhìn vẻ đẹp cuộc đời

Và dòng nước của trời sẽ gột rửa tâm hồn tôi

Mang đi đến những thửa ruộng bậc thang

Mọc lên bên sườn đồi

Và những mảnh vườn màu mỡ được phù sa bồi đắp...

Ôi lạy Chúa… Tôi sẽ quan sát

Những gì đã theo tôi đến mảnh đất này

Đến cái nơi mà tôi không thể nào dứt bỏ... ra khỏi trái tim tôi.

Tôi đọc xong bài thơ, mở cái túi ra và bắt đầu rải tro của Rick xuống dòng sông.

- Chúa phù hộ cho người anh em của tôi. Hãy yên nghỉ đời đời!

Rick đã trở về cái tổ của mình, nơi anh tìm thấy trong chiến tranh khốc liệt cũng là cái nơi mà tôi biết là mình chưa bao giờ rời khỏi.

Trong hành trình trở về Việt Nam của mình, người cựu chiến binh Mỹ đã tìm thấy một sự thật: nhiều đứa trẻ được sinh ra sau những gì người Mỹ đã để lại trên mảnh đất này... Những cơn mưa màu da cam hôm qua và những tật nguyền người Việt Nam đang hứng chịu hôm nay, ông đều đã tận mắt nhìn thấy. Câu chuyện ông kể xúc động và đầy sự bất bình...

* Lợi nhuận quan trọng hơn những nạn nhân vô tội

Bác sĩ Trịnh Văn Bảo và
em bé nạn nhân da cam.

Tôi nhớ đến những chiếc máy bay trực thăng đã rải chất độc hóa học dioxin lên vùng Hiệp Đức trong những năm chiến tranh. Bây giờ nhớ lại tôi còn như trông thấy hai chiếc trực thăng chầm chậm bay dọc theo thung lũng.

Chất độc hóa học phun xuống như một trận mưa để lại một lớp cặn lắng trên cây cỏ, đất đai và những người có mặt. Nó có mùi của chất hóa học thật ra hơi giống mùi xăng nhưng ngửi thấy là lạ.

Tôi đã không chú ý đến điều này, mấy anh bạn đồng ngũ của tôi chỉ nhún vai với một vẻ khó chịu. Thì nó cũng chỉ là một sự bất tiện khác trong chiến tranh giống như đàn muỗi đói, mồ hôi nhơm nhớp dưới cái nắng gay gắt và nước bùn bốc lên mùi thum thủm. Chẳng ai dành cho nó một giây suy nghĩ tại sao. Sau cùng, chẳng phải Chính phủ Mỹ đã làm việc này để giúp binh sĩ Mỹ đó sao?

Người Việt không phải là người Mỹ!

Những cựu chiến binh Mỹ ở Việt Nam có một tỉ lệ khá cao trong những người mắc bệnh ung thư, các bệnh mãn tính, bệnh tiểu đường và một loạt những bệnh khác, đó là do họ nhiễm phải chất độc da cam trong khi phục vụ quân đội ở Việt Nam. Con của họ cũng bị ảnh hưởng, tỉ lệ chết non, đẻ non, nứt đốt sống và những rối loạn thể chất trong tuổi ấu thơ cao hơn những đứa trẻ có bố mẹ không nhiễm phải chất độc này. Đó cũng là mối lo ngại lớn của gia đình tôi khi Kathy mang thai.

Ở Việt Nam, các khu vực cách xa nhau như là Biên Hòa ở miền Nam và Quảng Nam ở miền Trung cũng là những vùng có vấn đề nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến chất làm rụng lá cây đã rải lên đất đai và làng mạc của họ trong chiến tranh.

Người dân ở đây tiếp tục phải sống, họ trồng lúa và hoa màu, ăn rau trái, uống nước và sinh hoạt trên một mảnh đất bị nhiễm độc cao. Nếu một trường hợp tương tự xảy ra ở Mỹ thì Chính phủ Mỹ sẽ phải trả giá rất đắt, phải cải tạo lại đất đai, nguồn nước, xây lại nhà cửa và bồi thường cho những nạn nhân. Công ty hóa chất Dow sẽ bị buộc phải trả giá cho những nguồn lợi mà họ đã thu được trong chiến tranh.

Nhưng với người Việt mọi việc lại khác. Công ty hóa chất Dow có tài liệu về những mối nguy hiểm của chất dioxin và những tác hại của nó khi bán chất hóa học này cho quân đội Mỹ để sử dụng như chất diệt cỏ và làm rụng lá trong chiến tranh.

Công ty này biết rõ về chất dioxin cực độc từ những năm 1940. Nhưng họ có được một món lợi lớn từ việc sản xuất hàng loạt chất độc này để rải xuống Việt Nam. Lợi nhuận, một lần nữa, quan trọng hơn những nạn nhân vô tội của những thế hệ tương lai bị ảnh hưởng bởi hành động này. Thế mà không có một món tiền nào trong những mối lợi kia dùng để sửa lại những hậu quả kinh khủng mà nước Mỹ đã phạm phải.

Sau khi Công ty hóa chất Dow hoàn thành một bản nghiên cứu vào năm 1969 khẳng định mối nguy hiểm của chất dioxin, nước Mỹ đã ngưng rải chất độc này ở Việt Nam trong vòng hai năm sau đó. Không có thông tin giải thích tại sao người ta lại tiếp tục rải chất độc thêm hai năm nữa!?

Nỗi đau ở Việt Nam

Ngoài chất dioxin, tháng 7-2001, người ta đã tìm thấy một nơi cất giấu hàng tấn khí CS, một loại hóa chất cực độc khác, được giấu ở trung tâm tỉnh Bình Định. Khi quân đội Mỹ rời khỏi đây, họ đã để lại nhiều thùng hóa chất có dung tích 50 gallon. Thái độ tắc trách này không chỉ có ở Việt Nam.

Tôi nhớ lại những thùng có dung tích 50 gallon đựng chất độc da cam mà chính phủ tàng trữ trong một nhà xưởng cũ nát nhưng không có biện pháp an ninh nào ở khu vực bảo tồn hoang dã Iroquois, bang New York những năm đầu thập kỷ 90.

Một trong những chiếc thùng này bị rò rỉ, chất độc ngấm xuống đất. Một phóng viên báo ở Batavie, bang New York đã viết một bài báo về chuyện này. Chính phủ vội cử ngay một đội quân đến hiện trường, chuyển tất cả chất độc da cam còn lại đi chỗ khác và phá hủy nhà xưởng.

Một chuyện nhỏ về chất độc chết người này ở Mỹ có thể làm cho chính phủ tiêu tốn hàng triệu đôla để làm sạch cả vùng.

Vậy mà việc cũng dùng chất độc ấy ở diện lớn và có chủ đích của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam thì lại dẫn đến việc chính phủ phải bỏ ra rất nhiều tiền để phủ nhận tất cả những tác hại của nó. Đây có phải là một tội ác chiến tranh có ý nghĩa lịch sử hay không?

Tôi đi cùng tiến sĩ Trịnh Văn Bảo, chủ nhiệm khoa sinh hóa và gen ở Đại học Y Hà Nội, khi ông xem xét trường hợp một cậu bé 15 tuổi chỉ có một cánh tay ở Đà Nẵng. Năm cậu lên 10, những khối u ác tính mọc lên ở cánh tay phải. Cánh tay nhanh chóng có màu tím bầm và các khối u phát triển, to lên.

Phẫu thuật không làm được gì, các khối u lan sang vai và lưng. Cuối cùng cánh tay phải bị cắt bỏ. Cả lưng và vai của cậu phủ đầy những khối u và một lớp da màu tím sẫm. Cậu bé là con của một trong những người đã bị nhiễm chất độc da cam và chính nó đã gây nên nỗi bất hạnh của cậu.

Tạ Minh Tùng là một cậu bé 10 tuổi, anh của cậu là Tạ Minh Huy, 11 tuổi. Cha họ là một chiến sĩ giải phóng hoạt động ở Tây nguyên trong thời gian chiến tranh. Ông tham gia chiến đấu trong vùng bị rải chất độc da cam. Hai đứa con sinh ra với những rối loạn về xương cứng, nứt đốt sống và những rối loạn khác.

Mỗi đứa trẻ bây giờ chỉ cao khoảng 5, 6 tấc. Chúng chỉ bập bẹ được một hoặc hai từ để nói với nhau và sống trong phạm vi một cái chiếu trải dưới sàn trong buồng ngủ với đôi chân còng queo quấn quanh người. Khi tôi đến thăm, chúng nhìn tôi đăm đăm và mỉm cười. Câu chuyện của người mẹ xen lẫn với tiếng nấc nghẹn ngào. Chị nói: “Tôi chỉ không biết chuyện gì sẽ xảy ra trong gia đình tôi nay mai. Tôi mong sao nước Mỹ quan tâm đến những đứa trẻ này”.

Anh Nguyễn Giao (39 tuổi) có ba đứa con gái: 20 tuổi, 17 tuổi và một bé gái lên 10. Anh nằm trên một cái chiếu, hoàn toàn không có khả năng di chuyển. Toàn thân anh phủ đầy khối u to bằng trái banh golf. Những khối u lớn hơn to bằng trái bóng đá thì lòi ra từ chân và ngực. Tay chân anh trông khẳng khiu giống như bộ xương. Giao là một nạn nhân khác của chất độc da cam.

Khi còn bé gia đình anh sống cách một căn cứ quân sự Mỹ ở Đà Nẵng chưa đầy một hai cây số. Anh vẫn nhớ những chiếc máy bay lên thẳng rải chất độc ở vùng này. Chất độc đã giết hết cá tôm. Một hôm anh ăn khoai tây bị nhiễm chất hóa học. Một thời gian ngắn sau, những khối u nhỏ mau chóng mọc khắp người anh.

Nhiều người bạn anh đã chết trong vòng vài tháng hoặc vài năm sau khi người mọc đầy khối u nhỏ. Năm 1980, những khối u lớn hơn xuất hiện. Trong vòng 10 năm anh không thể đi lại và chịu những cơn đau toàn thân triền miên, cùng với chứng đau đầu và sốt.

Ba con gái của Giao cũng thấy trên người mọc lên những khối u nhỏ. Các cô đều hay bị sốt, đau đầu, hoa mắt chóng mặt và thị lực giảm sút. Trước đây không một ai trong họ nhà anh có những vấn đề tương tự như thế này. Tôi hỏi: “Anh muốn nói gì với những người Mỹ đã gây nên chuyện này?”. Im lặng một chút - giây phút ấy dường như kéo dài ra mãi - đôi mắt u uẩn chăm chăm nhìn tôi, anh nói giọng nhẹ nhàng: “Nếu như người Mỹ có thể giúp con gái tôi, tôi chỉ hi vọng họ sẽ làm điều đó.” Anh nằm xuống trong tư thế co quắp và cái nhìn cứ dán vào tôi. Tôi buộc phải nhìn đi chỗ khác.

Con số các nạn nhân và hoàn cảnh khắc nghiệt mỗi người mỗi vẻ thật là một điều gì đáng ngạc nhiên. Ông nội trong một gia đình nọ là một Việt cộng đã từng sống trong vùng bị rải chất độc hóa học, con trai ông ra đời với những khối u, cháu nội ông cũng sinh ra với những khối u. Rõ ràng đó là di chứng đã ám ảnh Việt Nam trong nhiều thế hệ. Người ta tự hỏi tại sao nó không ám ảnh lương tâm người Mỹ?

Và lương tâm người Mỹ

Việt Nam đã đấu tranh với một nỗ lực tuyệt vọng để giúp các công dân của họ. Viện trợ ngắn hạn cho bất cứ hoạt động nào của chính phủ ở Việt Nam, người ta được thông báo rằng bắt đầu từ tháng 6-2001 những nạn nhân bị nhiễm chất độc rải trong chiến tranh sẽ được hưởng một số tiền tương đương 2-23 cent mỗi ngày.

Trong thực tế các nạn nhân Việt Nam nhận được một số tiền ít hơn tiền mà Chính phủ Mỹ bỏ ra để chuyển qua đường bưu điện những chi phiếu trả cho các nạn nhân người Mỹ. Đó là tất cả những gì mà Chính phủ Việt Nam có thể làm được. Xin hãy nghĩ một chút khi lần sau bạn nhìn thấy những quảng cáo về Công ty hóa chất Dow trên ti-vi, và giá hàng trăm ngàn đô-la trả cho mỗi quảng cáo ấy.

Hãy nghĩ đến 2 cent mà họ không nỡ bỏ ra để trả cho những nạn nhân của chất độc dioxin. Hãy nghĩ về phương châm của Công ty hóa chất Dow - “Sống. Và cải thiện điều kiện sống hằng ngày!” rồi hãy nghĩ đến những đứa trẻ đang hấp hối, những đứa trẻ tật nguyền, những đứa trẻ ho ra máu ở những vùng núi nghèo khổ ở Việt Nam.

Người Việt là những người giàu lòng vị tha, họ quy tình huống này cho số phận hơn là đổ lỗi cho các công ty hoặc cho một chính phủ. Đó là bản chất của người Việt Nam. Họ thậm chí còn khuyến khích Công ty hóa chất Dow vào đầu tư ở Việt Nam. Nó có thể là một đối tác được hoan nghênh ngày hôm nay và ngày mai trong sự nghiệp phát triển kinh tế. Điều này tất nhiên không thay đổi được sự thật là có hàng triệu người chịu tác hại của chất độc da cam ở Việt Nam. Nhiều đứa trẻ đã sinh ra sau những gì người Mỹ để lại nơi đây.

Khi rời Việt Nam vào năm 1969, anh lính quân dịch K. Herrmann đã thề r#1

Có thể bạn quan tâm