Một nền văn học mang tính nhân bản sâu sắc

Trong những ngày tháng 4 này, cùng nhớ về Ðại thắng Mùa xuân năm 1975, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Nhà thơ HỮU THỈNH, Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học - Nghệ thuật, Chủ tịch Hội Nhà văn (HNV) Việt Nam về  tính chất và giá trị của nền văn học chống Mỹ, cứu nước.

PV: Thưa nhà thơ Hữu Thỉnh, thời gian càng lùi xa, sự minh định về tính chất của nền văn học chống Mỹ, cứu nước càng rõ. Với tư cách là một nhà thơ và Chủ tịch HNV Việt Nam, anh có thể nói rõ hơn về tính chất của nền văn học đó?

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Trước hết chúng ta hãy nhớ lại bối cảnh lịch sử. Chiến thắng ngày 30-4-1975 là một chiến thắng cực kỳ vĩ đại, một trong những chiến công hiển hách nhất của dân tộc ta. Ngoài một số trận thắng cục bộ; trong lịch sử nhân loại chưa từng có một nước phương Ðông nào lại thắng được một nước phương Tây. Việt Nam thắng Pháp, rồi thắng Mỹ, là nước phương Ðông đầu tiên thắng nước xâm lược phương Tây. Ðặc biệt, Mỹ lúc đó là nước mạnh nhất trong các nước đế quốc  về tiềm năng kinh tế, tiềm lực quốc phòng... Hơn nữa, còn có quân đội thuộc phe Mỹ trực tiếp tham gia vào cuộc chiến, nhiều nước khác cho Mỹ đặt căn cứ quân sự...

Lẽ phải, lương tri của loài người bị thách thức. Cả thế giới nhìn về Việt Nam. Việt Nam có dám đánh Mỹ và có thể thắng Mỹ không?

Nhưng chúng ta đã thắng, thắng một cách vẻ vang. Vì thế, lực lượng hòa bình, tự do, tiến bộ trên thế giới đã ca ngợi Việt Nam là lương tâm của thời đại, Hà Nội là Thủ đô của phẩm giá con người.

Cũng vậy, nền văn học chống Mỹ, cứu nước (xin hiểu cả các ngành nghệ thuật khác) không chỉ là nền văn học giải phóng dân tộc, mà là một nền văn học mang tầm nhân loại, có ý nghĩa giải phóng các dân tộc bị áp bức và vì phẩm giá con người.

PV: Vậy, chúng ta đã thắng xâm lược Mỹ bằng những sức mạnh gì?

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Bằng sức mạnh của văn hóa, sức mạnh của lòng yêu nước, bằng ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Nhiều sách của Mỹ viết về Việt Nam đều thừa nhận Mỹ thua Việt Nam do không hiểu văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Tố Hữu viết Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận! Ðúng lắm. Trong cuộc chiến tranh này, chúng ta đã huy động tổng lực sức mạnh chiến tranh nhân dân Ba mốt triệu nhân dân/ Tất cả hành quân/ Tất cả thành chiến sĩ mà còn tổng lực  sức mạnh của lịch sử. Ðó là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, nghệ thuật quân sự được hun đúc từ nhiều nghìn năm. Chúng ta thắng bằng văn hóa, bằng lý tưởng. Dưới đáy ba-lô của người chiến sĩ có trang sách; trong trái tim người chiến sĩ đều có sự giác ngộ, không chỉ vì dân tộc mình mà còn vì cả nhân loại: Ta hiểu vì sao ta chiến đấu, Ta hiểu vì ai ta hiến máu.

Ðứng về phía ta, còn có lực lượng tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ. Ðiều đó cũng nói lên tầm vóc, ảnh hưởng lớn lao của cuộc kháng chiến vì độc lập dân tộc, vì chính nghĩa của chúng ta. Tiếp theo chiến thắng Ðiện Biên  "lừng lẫy địa cầu" là Ðại thắng Mùa xuân năm 1975 của Việt Nam đã chấm dứt hoàn toàn chủ nghĩa thực dân cũ và mới, làm cho mọi dân tộc đạt được vị thế bình đẳng về pháp lý trên trường quốc tế.

PV: Thưa nhà thơ, văn học đã tham gia vào cuộc chiến tranh đó như thế nào?

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Nói một cách hình ảnh - cái hình ảnh do nhân dân thời đó gọi lên, thời đại chống Mỹ là thời đại Tiếng hát át tiếng bom. Nghĩa là thời đại mà giá trị tinh thần cao đẹp đã vượt hẳn lên trên sự tàn bạo của đế quốc xâm lược. Những ai sống trong ngày tháng đó đều hiểu rằng, VHNT là một binh chủng không thể thiếu được, có một sức mạnh phi thường.

VHNT, đặc biệt là thơ ca, đã khơi dậy và truyền năng lượng tinh thần của dân tộc, của lịch sử cho mỗi người chiến sĩ, mọi lực lượng tham gia chiến đấu.

PV: Nhưng cũng nhiều ý kiến cho rằng, văn học chống Mỹ còn giản đơn, sơ lược; nặng về tuyên truyền hoặc là một "chủ nghĩa hiện thực phải đạo"...

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Nói thế là sai. Nếu người viết tự nhận thấy mình còn những thiếu sót để bổ khuyết, nâng cao, thì đó là một chuyện khác. Nhưng để đánh giá một nền văn học như vậy là hoàn toàn sai. Như tôi đã nói ở trên, nền văn học chống Mỹ, cứu nước là một nền văn học rất nhân bản. Nó vì sự nghiệp giải phóng một dân tộc khỏi ách xâm lược, ở một mức độ nào đó, mang ý nghĩa giải phóng nhân loại. Nó đề cao giá trị con người. Và về mặt nghệ thuật có rất nhiều thành tựu. Mới mẻ. Sáng tạo. Xúc động lòng người. Không chỉ văn học, tất cả các binh chủng nghệ thuật đều như vậy. Nhiều, rất nhiều tác phẩm trong thời kỳ đó có giá trị kinh điển.

Chính Hữu có những câu thơ đầy sáng tạo Súng ta kê bên nôi nhỏ các em nằm/ Hàng ngũ ta đi dài như tiếng hát... Phạm Tiến Duật có những câu thơ rất lạ, rất đổi mới: Không có kính không phải vì xe không có kính/ Bom dập, bom rung kính vỡ đi rồi/ Ung dung buồng lái ta ngồi/ Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng. Nói về thần tốc của chiến dịch Hồ Chí Minh, tôi cũng tâm đắc với câu Cành ngụy trang qua gió thổi ba miền...

Thơ ca cũng không né tránh nỗi buồn và sự mất mát: Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn ta sẽ thành mấy sư đoàn (Nguyễn Ðức Mậu); Chiếc áo đỏ rực như than lửa/ Cháy không nguôi trước cảnh chia ly/ Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia/ Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy/ Không che được nước mắt cô đã chảy... (Nguyễn Mỹ). Thơ ca đề cao tình yêu, tôn trọng con người cá nhân Anh yêu em như yêu đất nước (Nguyễn Ðình Thi);  Ðất nước là nơi ta hò hẹn (Nguyễn Khoa Ðiềm). Ðặt người yêu ngang với Ðất nước như Nguyễn Ðình Thi; coi Ðất nước sinh ra vì tình yêu lứa đôi như Nguyễn Khoa Ðiềm - thể hiện đối tượng được phản ánh cũng như người viết có tình yêu lớn lắm, bản lĩnh lắm!

Thời kỳ ấy, chúng ta cũng được mùa về trường ca, với những tác phẩm bề thế, hoành tráng, dựng nên tầm vóc của cuộc chiến đấu và vẻ đẹp con người trong chiến tranh.

PV: Vâng, những câu thơ ấy thật sự nhân bản, xúc động... Từ văn học chống Mỹ, cứu nước ta có thể có bài học gì cho hôm nay?

Nhà thơ Hữu Thỉnh: Ðất nước nghèo, lạc hậu, mang trên mình bao vết thương chiến tranh mà tiến lên công nghiệp hóa, hội nhập quốc tế - đó là cả một sự nghiệp vĩ đại. Ðó là điều kiện tốt để nhà văn dấn thân, thể hiện tài năng và trách nhiệm của mình. Tôi tin văn học có thể cất lên một sải bay mới.

Từ thực tiễn nền văn học chống Mỹ, cứu nước tôi thấy rằng, bài học lớn nhất là bài học trách nhiệm công dân của nhà văn. Lớp nhà văn chống Mỹ chủ yếu xuất thân từ chiến sĩ. Cầm súng và cầm bút đều với tinh thần xả thân vì nghĩa lớn, sẵn sàng đón nhận hy sinh: Ta xé mình ra ngang dọc chiến hào/ cho Tổ quốc liền sông núi vạn đời sau (Chế Lan Viên); Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/ Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc/ Cỏ sắc mà ấm quá phải không em (Thanh Thảo). Người ta cược cả đời mình cho một truyện ngắn, cho một thiên ký sự nóng bỏng từ vùng đất lửa. Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Dương Thị Xuân Quý... những tài năng đã hy sinh trong những trường hợp như thế.

Một bài học khác là việc bố trí lực lượng. Khắp tất cả các chiến trường, các mặt trận, chiến đấu cũng như sản xuất đều có mặt của đội ngũ văn nghệ sĩ. Từ Việt Bắc, Tây Bắc, Hà Nội, Khu IV, Trị Thiên, Tây Nguyên, Khu V, Khu VI, Ðông Nam Bộ, Tây Nam Bộ, C, K đều có những chiến sĩ cầm bút nằm vùng và từ Hà Nội liên tục đi thực tế các chiến trường. Vì thế, trong những tháng năm ác liệt nhất, lại có những tác phẩm văn học, sân khấu, điện ảnh, hội họa, nhiếp ảnh... thành công nhất, phản ánh toàn diện cuộc kháng chiến, để lại di sản vô giá cho đời sau.

Ðiều thứ ba là ý thức trân trọng của toàn xã hội đối với văn nghệ sĩ, với các tác phẩm nghệ thuật. Một bài thơ, một ký họa, một vở kịch, một bản nhạc... từ miền nam gửi ra được nhân dân nồng nhiệt đón nhận, được các báo lớn, nhất là Nhân Dân, Văn nghệ, Quân đội nhân dân đăng tải, được Ðài TNVN phổ biến rộng rãi. Tiền tuyến gọi là một vở kịch của tác giả không chuyên, bác sĩ Trần Quán Anh viết trong tuyến lửa, lập tức được NXB Văn học in, được Ðoàn kịch Hà Nội và nhiều đoàn nghệ thuật khác dàn dựng, được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh. Quả là một sự phối hợp kịp thời và tuyệt đẹp!

Ðội ngũ những nhà văn trưởng thành trong chống Mỹ, cứu nước còn nhiều tiềm năng và tôi tin tưởng ở họ. Cùng với những nhà văn thế hệ sau, trong tinh thần kế thừa và đổi mới, chắc chắn  sẽ có những tác phẩm kết tinh đẹp đẽ, tài năng và tâm huyết của cả một thế hệ "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".

Có thể bạn quan tâm