Mở lối cây trồng cho vùng lũ Thanh Trì- Hà Nội

Cha ông nghìn đời tổng kết: "nhất thủy, nhì hoả". Ông nghĩ bụi tre gai gan góc ven đê, mới chỉ tồn tại, chống được xói lở, giữ được đê điều, chứ chưa sinh lợi nhiều. Nghĩa là trồng cây gì cho hiệu quả trong vùng lũ lụt thường xuyên vẫn là câu hỏi, khi ngô, lạc, đậu, lúa....đều chết chìm trong dòng lũ trắng. 

Thực tiễn vặn hỏi nhà khoa học

Ông không phải là nhà nông học đích thực. Là người đồng đất Nam Định, dù được đào tạo điện tử quân sự tại Kiev, những trăn trở của con nhà nông vẫn lẩn quất trong ông. Hồi đó, những người thầy uyên bác đã cho ông bài học của một cường quốc về khoa học cơ bản, nghiên cứu lý thuyết, song lại kém phát triển về ứng dụng, rằng khoa học cuối cùng phải trả lời những câu hỏi của thực tiễn.

Ông nói: "Khi ở Liên Xô, tôi đã có ý định lập Viện khoa học công nghệ ứng dụng, sẽ đi vào ứng dụng điện tử. Về nước làm Giám đốc Trung tâm tin học-ngoại ngữ mãi, thấy Singapore cũng bỏ điện tử quay sang ứng dụng sinh học rồi, những năm 90, tôi thấy phải liên kết nghiên cứu những vấn đề cụ thể ứng dụng sinh học cho nông nghiệp nước mình"

Tuổi ngoài 50, ông nghĩ, phương châm "chung sống với lũ" tích cực còn phải là tìm ra loại cây chịu lũ mà vẫn cho sản phẩm. Sao không thử nghiên cứu ứng dụng đưa những loài tre măng nhập nội đa dạng, ngon hơn, năng suất hơn về trồng? Vùng lũ sẽ có thêm rau sạch, thành hàng hoá. Trước năm 2003, đưa ra ý tưởng này, ông chỉ nhận được sự phản đối. Không hoang tuởng thì cũng thiếu thực tiễn. Đưa tre măng về vùng lũ cũng như "chạch đẻ ngọn đa".

Ông mời Viện trưởng Viện Kinh tế Sinh thái Việt Nam, GS.TSKH Nguyễn Văn Trương, GS.TS  Ngô Quang Đê (Đại học Lâm nghiệp) làm cố vấn khoa học - công nghệ. Ông Đê giới thiệu cho ông luận án thạc sĩ về Điềm trúc Trung Quốc nhập nội từ 1999. Ông đọc cả đêm. Nhưng khó là luận án lại thực nghiệm ở vùng Đá Chông- Hà Tây đồi núi. Trung tâm giống Ba Vì chưa hề có kinh nghiệm canh tác trong vùng ngập lũ. Ông đi khảo sát thực tế, về trang trại của ông Tạ Văn Tiến ở Đan Phượng, Hà Tây tìm hiểu thấy Điềm trúc đã cho củ nặng tới 3kg. Nhưng đó là trồng trên vùng phân lũ cho Hà Nội chả mấy khi ngập lụt.

Nhưng ông không nản. Lai ghép "quái dị" tre với lúa nước từ lâu của Trung Quốc, tre với mía của Ấn Độ làm ông sốt ruột. Cái gien lỳ nước của tre Việt Nam với loài măng ngọt kia nhất định phải có mối liên hệ sinh học.

Ông về Thanh Trì, rốn lũ của Hà Nội. Cộng sự của ông là TS  Lê Hải, KS Bùi Huy Thọ, KS Bùi Đắc Sáng. Để dồn tiền nghiên cứu ông hủy mấy hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của mình và gia đình, vay bạn bè, con cái. Đất nước hoà bình, nhưng sự kém phát triển là giặc. Người trí thức quân đội xuống vùng lũ Yên Mỹ, Duyên Hà, Vạn Phúc (Thanh Trì); về Văn Đức, Ngọc Thụy (Gia Lâm) "tìm giặc mà đánh".

Trong cuộc chiến này, Viện trưởng Viện Công nghệ- Sinh học ứng dụng ITECH - CEREBA (Liên hiệp Khoa học Công nghệ)(UIA) Trần Xuân Tư phải đi tìm đồng đội mới của mình.

Khó thì đảng viên làm trước

Bí thư Đảng uỷ xã Yên Mỹ Ngô Văn Thi kể: "Lãnh đạo Yên Mỹ đã đi khắp các tỉnh, mất rất nhiều thời gian, tiền bạc, công sức tìm kiếm, học hỏi mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhưng chẳng kết quả, đành chịu vậy"     

Vốn là vùng chuyên canh rau từ những năm 70 của Hà Nội, cơ chế thị trường, thanh niên bỏ làng ra phố, tuổi lao động ở Yên Mỹ trung bình tới 40-50. Đất hoang, thiếu lao động, và những cơn lũ vẫn đều đặn vạch ngấn trên bờ đê, tường nhà Yên Mỹ - "Quít ngọt về hoá chua. Vải Thanh Hà to, về đây thành nhỏ. Chúng tôi về Hà Bắc, Hải Dương tham quan mô hình dược liệu, nhưng hiệu quả kém trồng rau.. Hoa hồng, hoa cúc Tây Tựu cũng không lại được với lũ..- Ông Thi nhớ lại"

Ông Trần Đức Vinh, 50 tuổi, Phó Chủ nhiệm HTX, Phó Chủ tịch Hội Nông dân Yên Mỹ kể, đồng bãi này hằng năm lụt 2-3 tháng. Lũ bình thường đã dâng 2-3 mét so với mặt ruộng, nên chuyện trồng màu hỏng, trồng chuối cũng "đổ", rồi bỏ cỏ mọc hoang hàng năm cũng là dễ hiểu.

Đúng lúc đó, ông Tư về tư vấn cho lãnh đạo Yên Mỹ trồng Điềm trúc. Lãnh đạo xã bất ngờ, vừa trân trọng lắng nghe, vừa lặng lẽ kiểm tra bằng những kênh thông tin khác: đây là cây có năng suất, hiệu quả cao, nhưng chưa ai trồng được ở vùng lũ lụt hằng năm.

Tin nhưng còn băn khoăn. Đảng ủy xã phải họp ra nghị quyết, mở  hội nghị bàn với dân làm điểm. Đã quyết thì phải làm. 19/1200 hộ đi đầu, trong đó một nửa là cán bộ, đảng viên. Tháng 10-2003, lãnh đạo đảng, chính quyền, HTX, Hội Nông dân, Hội CCB....người ít một sào, người nhiều 40 sào trồng Điềm trúc, trong khi một số phòng ban huyện vẫn chờ xem, còn người dân vẫn lắc lư ngắm cái cây giống đưa về to bằng ngón tay mà bảo "cho măng tới 3-4 cân một củ, bán một cân tới mấy ngàn ! " - "Tôi nói, cán bộ, đảng viên nên làm trước. Nếu thất bại mình chịu. Mất thì chỉ mình và ông Tư  thiệt,  có lấy tiền Nhà nước đâu mà sợ"- ông Thi kể.

 Ngay đợt trồng đầu, mưa lớn gây hại nặng. Trồng dặm vào, tiếp tục chết. Có nhà một sào chết sạch. Ông Tạ Văn Tiến, từng lăn lóc với Điềm trúc mấy năm nay hợp tác giúp ông Tư chuyển giao kỹ thuật, phải bảo hành hai lần, nhưng vẫn chết nhiều. Niềm tin của dân Yên Mỹ lung lay. Chỉ còn 10 hộ làm, trong đó có bảy đảng viên. Ông Tư cùng lãnh đạo xã "chịu trận", quyết làm tới cùng. Ông trực tiếp vào cuộc cùng các nhà khoa học đầu ngành, đưa giống tốt về, điều chỉnh quy trình kỹ thuật. Cuối 2003, diện tích Điềm trúc khoảng 3 ha với 1200 cây. Lại còn chuyện chỉ một đêm, kẻ xấu đã nhổ tan hoang tới 500 gốc của nhiều hộ. Đất và người Yên Mỹ lại một phen xáo động trước sân si của... lòng người.

Trận lũ cuối tháng 7-2004 là thử thách lớn nhất. Cây chìm trong lũ, thấp nhất 70 cm, sâu nhất tới 2,2 mét nước. Chỗ rút nhanh mất bảy ngày, chỗ lâu nhất ngâm nước 15 ngày. Vẫn còn cây chết vì sai kỹ thuật, chăm sóc kém, song đại bộ phận vẫn trụ vững, xanh mướt. Sau lũ, nhà nông, nhà khoa học thở phào. Ngấn bùn đã thành "vương miện" trên cây. Người ta bảo: "Chuyện xưa nay chưa hề có ở vùng lũ lụt".

Lũ rút, lộ ra cánh đồng....50 triệu đồng/ha?

Theo nghiên cứu, măng Điềm trúc (trúc ngọt) Trung Quốc nhập nội (Dendrocalamus Latiflorus Munro) có hàm lượng đường tổng cao hơn măng bương, vầu, luồng...Hàm lượng chất béo phù hợp với những người ăn kiêng, giảm mỡ máu, béo phì...Theo Thạc sĩ Trần Trung Hậu, từ năm thứ ba, năng suất có thể tới 30-40 tấn/ha. Trung Quốc mỗi năm sản xuất 1,7 triệu tấn măng tươi, 120 triệu tấn măng khô, 200 000 tấn măng hộp. Mỹ, EU, ASEAN hiện là những nhà nhập khẩu lớn.

Ông Tạ Văn Tiến khẳng định "Từ 2003, trang trại của tôi cho năng suất 40 tấn/ha, thu nhập 200 triệu đồng/ha"

Ông Khúc Duy ân, nông dân 62 tuổi, xã Yên Mỹ nói: "Kinh tế thị trường, cái  gì ra kinh tế, phù hợp sức khoẻ thì làm. Trồng rau, tôi già không có sức dậy  từ 1 giờ sáng. Nếu có nhiều đất, đầu tư cái này lợi cao"- Ông Ân nói, vụ măng 2005, một sào Điềm trúc năm thứ hai với 21 khóm, ngoài ăn, cho không kể, ông bán lẻ 6.000 - 8.000 đồng/kg. Tuần cắt một lần, tháng được 84 kg khoảng 600.000 đồng Tôi sẽ làm thêm một sào rưỡi nữa - "Có một ông bán hàng ăn ở Sơn Tây, nhận có bao nhiêu thầu hết"

Ông Trần Đức Vinh rút máy tính trong túi áo, tay bấm, miệng kể: thầu 40 sào ruộng hoang của xã trồng Điềm trúc, tiền đất, diệt cỏ, làm đất, đào hố, giống 12.000 một cây, chi phí khoảng 535. 000đồng/sào- "Tháng 4-2006 sẽ thu  đại trà. Bỏ rẻ mỗi gốc 10.000 đồng (tạm tính mỗi gốc cho 3 kg măng với giá bán buôn 3.000 - 3.500 đồng/kg về tận nhà đào cả củ nguyên bẹ), nếu 1.000 gốc sẽ có 10 triệu đồng. Từ 2007 sẽ có lãi. Tôi khảo sát thị trường Hà Nội rồi, phần lớn từ Sơn Tây, Sóc Sơn. Trồng tập trung sẽ lãi nhiều." Ông Vinh tự tin: "Ai chả phải ăn rau hả anh? Mà lại là rau sạch. Tôi chỉ bón phân vi sinh, NPK  Văn Điển. Chế biến khô, đóng hộp, giá trị còn tăng..."

Bí thư Ngô Văn Thi giờ đã nhẹ người: "Giống măng này không đắng, giòn, trắng ngà. Đào lên ăn sống được.  Cứ một mẹ đẻ 7-10 măng, để lại 30 %, còn càng cắt khéo, chăm bón tốt, độ ẩm nhiều, măng càng lên. Tháng 4 tới, anh về mà xem, tua tủa! Từ tháng 4 đến tháng 10, tuần nào cũng thu hoạch." Theo ông Thi, nếu chăm tốt có thể cho 2-2,5 triệu đồng/sào/năm, cao hơn ngô (1,8 triệu), lạc (1,7 triệu), đỗ (1 triệu hai vụ); chỉ kém rau (3 triệu), cà chua (3,5- 4 triệu) - hiện vẫn là cây trồng chủ đạo ở đây.

Thành công bước đầu của mô hình là từ sự dũng cảm đột phá, nghiên cứu vận dụng cái mới, liên kết "các nhà" xử lý bài toán thực tiễn. Nó mở ra khả năng nhiều tỉnh dọc các triền sông lớn Bắc Bộ, Trung Bộ...chịu lũ lụt hằng năm có thể chuyển trồng Điềm trúc cho sản phẩm đa dạng (thực phẩm, chất đốt, nguyên liệu giấy, làm ván ép...) kết hợp tạo rừng phòng hộ, vùng du lịch sinh thái. Những gì ở Yên Mỹ đang đặt ra vấn đề: kiểm chứng khoa học, chuyển giao quy trình sản xuất bền vững, tiềm năng thị trường khi đã thành hàng hóa, khả năng nhân rộng..đòi hỏi nhiều bên liên quan phải nhập cuộc.

"Riêng đồng bằng sông Cửu Long thì còn phải điều tra kỹ quy luật lũ"- ông Tư cho biết. Sau Giải công trình khoa học công nghệ xuất sắc nhất của UIA 2003 - 2005, ông dự định hoàn thiện đề tài; phối hợp với Hội CCB Hà Nội tập huấn mô hình cho nhiều địa phương khác, lập hồ sở bảo vệ đề tài dự thi Giải thưởng VIFOTEC 2006...

"Chim đã về vườn Điềm trúc rồi đấy chú"- Ông Thi thông báo.

Đó là điềm lành năm mới với những nhà khoa học ứng dụng, dám đưa tri thức vào thực tiễn như ông Tư; những người như ông Thi, ông Thuận, ông Vinh, ông Tùng, ông Ân..và nhân dân Yên Mỹ luôn nặng lòng với đất, vì sự bứt phá mới trên  vùng rốn lũ.

Có thể bạn quan tâm