Mô hình liên doanh trồng rừng nguyên liệu giấy

Tìm hiểu về quá trình chuyển từng bước từ cơ chế đầu tư trồng rừng quốc doanh, sang trồng rừng liên doanh ở đơn vị này chúng tôi thấy rõ những căn cứ vừa có tính thực tiễn, vừa bảo đảm tính pháp luật khá chặt chẽ. Ðó là: Sau khi hoàn thành các công việc như: rà soát hiện trạng sử dụng đất đai đã được khoanh vẽ trên bản đồ địa chính với các tỷ lệ khác nhau, kết hợp đo đạc lại diện tích từng lô rừng, cắm mốc phân biệt phạm vi ranh giới giữa các loại rừng: rừng phòng hộ - đặc dụng và rừng sản xuất ở ngoài thực địa. Kết quả cho thấy quỹ đất lâm nghiệp chưa sử dụng còn hàng nghìn ha, phần lớn là đất trống, phân tán thành nhiều vùng, trải rộng trên địa bàn của 12 xã, thị trấn trong huyện Chiêm Hóa. Với ý thức góp phần tạo nguồn nguyên liệu đáp ứng nhu cầu hoạt động của Nhà máy giấy An Hòa, tỉnh Tuyên Quang; được phép của UBND tỉnh, công ty tiến hành quy hoạch, lập dự án đầu tư trồng RNLG trên toàn bộ diện tích hiện có.

Nếu chỉ bằng cách làm truyền thống trước đây, công ty dựa hẳn vào nguồn vốn vay tín dụng của Nhà nước để đầu tư trồng rừng và mọi hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, nhất là việc trồng, bảo vệ rừng đều do lực lượng lao động quốc doanh đảm nhiệm, hằng năm diện tích rừng trồng mới rất hạn chế. Bởi, số lượng vốn vay không đáp ứng được nhu cầu đầu tư. Thời điểm công ty nhận được vốn vay thường diễn ra vào cuối năm kế hoạch... công ty rất bị động. Một "điệp khúc": Lúc công ty cần đầu tư thì thiếu vốn, ngược lại khi có vốn thì thời vụ trồng, chăm sóc rừng đã hết, dẫn đến tiến độ trồng rừng rất chậm. Trong khi đó, diện tích rừng trồng còn lớn. Nguồn lực xã hội trên địa bàn chưa có biện pháp phù hợp để huy động đầu tư phát triển rừng. Vì thế, lực lượng lao động làm nghề rừng của địa phương và doanh nghiệp thiếu việc làm, mức thu nhập và đời sống người lao động chậm được cải thiện.

Nhằm giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh, thúc đẩy nhanh tiến độ trồng rừng theo định hướng của quy hoạch đề ra, từ năm 2005 đến nay, công ty đã năng động, đổi mới phương thức huy động nguồn lực đầu tư trồng rừng. Biện pháp cơ bản của cách làm mới này là: vừa vay vốn tín dụng Nhà nước đầu tư trồng rừng quốc doanh, vừa tuyên truyền, vận động các tổ chức kinh tế, xã hội, nhất là các hộ dân trong vùng, tham gia góp vốn với công ty, cùng đầu tư trồng rừng liên doanh. Sau mỗi chu kỳ trồng rừng liên doanh khoảng mười năm, lợi nhuận thu được từ khai thác gỗ nguyên liệu/ha rừng, được phân phối theo tỷ lệ mức góp vốn của mỗi bên. Cách làm này đáp ứng nguyện vọng người lao động, họ tham gia liên doanh trồng rừng ngày càng nhiều. Ông Mã Thế Kỳ, chuyên gia về quản lý lâm nghiệp, trực tiếp tham gia xây dựng mô hình trồng rừng liên doanh của đơn vị, cho chúng tôi hay: Các đối tượng tham gia ký hợp đồng trồng rừng liên doanh với công ty khá đa dạng và được ưu tiên theo trình tự: Trước hết là cán bộ, công nhân, nhân viên trong công ty; thứ đến là các hộ nhân dân trên địa bàn công ty đứng chân. Trong đó, có những hộ trước đây sống trong vùng thuộc lòng hồ thủy điện Na Hang, nay tái định cư xen ghép trên địa bàn các xã Phúc Thịnh, Tân An, Hùng Mỹ, Tân Mỹ... Ngoài ra, còn có một số ít các hộ cán bộ, nhân viên nhà nước làm việc tại một số cơ quan của UBND huyện Chiêm Hóa. Các đối tượng tham gia trồng rừng, sau này gọi là chủ rừng liên doanh đều có các điều kiện giống nhau như: có nơi ở ngay bìa rừng hoặc cận kề với lô rừng; có tiềm năng về vốn, sức lao động, am hiểu về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng. Họ được công ty giao đất gắn với năng suất gỗ nguyên liệu trên mỗi ha rừng trồng của mỗi chu kỳ sản xuất. Ðất giao trồng rừng liên doanh được công ty chia thành từng lô. Mỗi lô có diện tích nhỏ nhất là 0,5 ha, lớn nhất không quá 5 ha. Từng lô đất, công ty lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán đầu tư trồng rừng; làm dịch vụ phục vụ các chủ rừng về phân bón vô cơ các loại, giống cây trồng, hướng dẫn quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng trồng; quy trình về bảo vệ rừng; phòng, chống cháy rừng.

Sau khi nhận đất trồng rừng liên doanh, chủ rừng có trách nhiệm tổ chức lao động trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đúng tiến độ, đúng thời vụ, đúng quy trình kỹ thuật. Khi rừng được khai thác, chủ rừng có nghĩa vụ giao nộp cho công ty 100% sản phẩm gỗ nguyên liệu theo quy định của hợp đồng trồng rừng liên doanh. Nếu sản phẩm giao nộp không đạt mức hợp đồng, chủ rừng chịu phạt phần thiếu hụt. Ngược lại, tại thời điểm khai thác, sản phẩm gỗ nguyên liệu đạt vượt mức so với quy định của hợp đồng, công ty có trách nhiệm mua lại và mua theo giá thị trường trên địa bàn. Trong quá trình thực hiện hợp đồng trồng rừng liên doanh, nếu chủ rừng gặp rủi ro khách quan, không còn khả năng thực hiện hợp đồng, được sự chấp thuận của công ty, chủ rừng có thể chuyển nhượng hoặc cho thừa kế hợp pháp giá trị tài sản - chủ yếu là giá trị gỗ nguyên liệu trên diện tích trồng rừng liên doanh.

Ðể đáp ứng nhu cầu trồng rừng quốc doanh và trồng rừng liên doanh, công ty đã rà soát và sắp xếp, tổ chức lại lực lượng lao động hiện có, đồng thời chuyển sang hoạt động dịch vụ đầu vào, tiêu thụ sản phẩm cho các lao động trên địa bàn; phối hợp các chủ rừng thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các công đoạn sản xuất, quy trình kỹ thuật trồng rừng, giải quyết kịp thời những vướng mắc, mâu thuẫn mới nảy sinh, tạo các điều kiện thuận lợi, giúp các chủ rừng yên tâm trồng, bảo vệ rừng.

Từ khi công ty chuyển đổi từ hình thức trồng rừng quốc doanh là chính, sang hình thức vừa trồng rừng quốc doanh, vừa trồng rừng liên doanh, sản xuất lâm nghiệp nói chung, trồng rừng nguyên liệu giấy nói riêng, hằng năm công ty đều hoàn thành vượt mức kế hoạch tỉnh giao. Ðặc biệt chất lượng rừng trồng mới đã có bước chuyển biến tích cực. Trước đây loài cây rừng trồng chủ yếu là cây mỡ, bồ đề cho năng suất, sản lượng gỗ khai thác thấp; nay được thay thế bằng giống cây keo hạt có năng suất hằng năm cao hơn so với giống cũ. Ðồng chí Lưu Vĩnh Phúc, Giám đốc công ty thông báo với chúng tôi một tin vui: Trong bốn năm (2005-2008) tổng diện tích rừng trồng mới đạt 2.507 ha, trong đó trồng rừng quốc doanh hơn 723 ha, chiếm hơn 28,8%; diện tích trồng rừng liên doanh hơn 1.784 ha, chiếm hơn 71% so với tổng diện tích rừng trồng, tăng hơn 2,46 lần so với diện tích rừng trồng quốc doanh. Năm 2008 vừa qua, công ty trồng mới hơn 714 ha RNLG, cao nhất từ trước đến nay, tăng hơn 1,28 lần so với năm 2007, trong đó diện tích rừng quốc doanh chỉ chiếm hơn 15,5%, diện tích rừng trồng liên doanh chiếm hơn 84,5%. Có thể nói cơ chế trồng rừng liên doanh đã đáp ứng nguyện vọng và thúc đẩy cán bộ, công nhân công ty và nhân dân trên địa bàn tích cực tham gia liên doanh trồng RNLG. Năm 2005, năm đầu chỉ có 134 hộ (bao gồm 120 hộ là cán bộ, công nhân công ty và 14 hộ nhân dân ngoài công ty) tham gia trồng rừng liên doanh. Năm 2008 tăng lên 206 hộ, tăng 1,37 lần. Số hộ nhân dân trên địa bàn tham gia liên doanh tăng lên vượt bậc, từ 14 hộ năm 2005, tăng lên 98 hộ, tăng bảy lần. Có thể khẳng định thông qua cơ chế trồng rừng liên doanh, chủ trương, chính sách của Ðảng, Nhà nước về xã hội hóa nghề rừng đã trở thành hiện thực ở vùng núi cao Chiêm Hóa này.

Trao đổi ý kiến với cán bộ quản lý công ty và một số chủ rừng, bước đầu chúng tôi ghi nhận: Tham gia trồng rừng liên doanh công ty và các chủ rừng, hai bên đều có lợi. Các hộ trồng rừng liên doanh đã chủ động thời gian, tận dụng lao động nông nhàn đầu tư trồng, bảo vệ rừng nên tiến độ và diện tích rừng trồng được nhanh và nhiều hơn so với trước; họ thường xuyên chăm sóc, bảo vệ không cho người và gia súc phá hoại rừng, từ đó chất lượng rừng được nâng lên; lao động trồng rừng có thêm việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo, bởi giá trị họ thu được từ ngày công trồng, chăm sóc rừng thường chiếm khoảng 77% mức đầu tư một ha rừng trồng mới và sẽ được hưởng lợi vào khoảng 20-30 triệu đồng trong một chu kỳ sản xuất từ việc bán sản phẩm gỗ cho công ty.

Áp dụng cơ chế trồng rừng liên doanh đã giúp cho công ty giảm áp lực vay vốn tín dụng Nhà nước, tiết kiệm được các khoản chi phí khác như: bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và các chi phí khác. Sản phẩm rừng trồng được quản lý chặt chẽ, từ đó giá thành đầu tư/ha rừng trồng mới, và trên một đơn vị thành phẩm (1m3 gỗ RNLG) giảm so với trồng rừng quốc doanh, tăng thêm sức cạnh tranh trên thị trường; mối quan hệ giữa công ty với các cấp chính quyền, cộng đồng dân cư trên địa bàn được gắn bó hơn. Tình trạng tranh chấp đất đai giữa các hộ dân và công ty được ngăn chặn có hiệu quả. Cách làm của công ty đang được nhân rộng tới các quốc doanh trồng rừng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.

HOÀNG HIỂN

Có thể bạn quan tâm