Miền bắc chi viện miền nam trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Căn cứ những diễn biến mới nhất trên chiến trường miền nam, hậu phương miền bắc, tình hình nước Mỹ và thế giới những tháng cuối năm 1967, thời cơ chiến lược mới đã xuất hiện có lợi cho cách mạng, Bộ Chính trị nhận định: Chúng ta đang đứng trước những triển vọng và thời cơ chiến lược lớn.

Ðế quốc Mỹ đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan về chiến lược. Sau khi nghiên cứu ý kiến của các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy các chiến trường, nhất là Bộ Chỉ huy Miền, Khu 5 về khả năng đánh thành phố và khởi nghĩa, đồng thời phân tích âm mưu cơ bản của Mỹ và những thất bại của chúng về quân sự, chính trị trong năm 1967, Bộ Chính trị thống nhất nhận định: "Ðịch khó có khả năng mở cuộc phản công mùa khô lần thứ ba.

Xu thế của tình hình trong cả năm 1968 là địch sẽ càng ngày chuyển vào phòng ngự một cách bị động hơn trước". Từ đó, Bộ Chính trị quyết định: "Chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ giành thắng lợi quyết định"(1).

Xác định đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề và cấp bách, Bộ Chính trị chủ trương: "Ðộng viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định"(2) nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược mà T.Ư đề ra.

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị, trên cả nước nói chung và hậu phương miền bắc nói riêng, công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công diễn ra hết sức khẩn trương với tinh thần quyết tâm giành thắng lợi cao nhất. Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định lấy nhiệm vụ chi viện cho miền nam lúc này là mặt trận hàng đầu.

Miền bắc khẩn trương tổ chức động viên sức người, sức của nhằm chi viện nhanh chóng, kịp thời, đáp ứng yêu cầu của chiến trường miền nam trong cuộc tổng tiến công. Tháng 9-1967, Hội đồng Chính phủ triệu tập Hội nghị phòng không nhân dân trên miền bắc; rút kinh nghiệm các mặt tổ chức, báo động, đào hầm hố, che phòng, cứu chữa và khắc phục hậu quả địch đánh phá để bảo vệ nhân dân, bảo vệ sản xuất, giữ vững mạch máu giao thông vận tải chi viện chiến trường.

Lực lượng phòng không, phòng thủ bờ biển, lực lượng giao thông vận tải, công binh... chấn chỉnh về tổ chức, tăng cường về số lượng, hoàn chỉnh thế trận nhằm bảo vệ vững chắc miền bắc, bảo đảm chi viện miền nam. Công tác động viên lực lượng ở miền bắc được thực hiện trên quy mô lớn nhằm tăng cường hơn nữa sức mạnh chiến đấu cho quân đội, đáp ứng yêu cầu bổ sung quân số cho chiến trường miền nam.

Cuối tháng 7-1967, Quân ủy T.Ư mở các lớp tập huấn nhằm quán triệt về tình hình và nhiệm vụ mới cho cán bộ trung, cao cấp trong toàn quân. Tháng 8-1967, lực lượng vũ trang nhân dân mở cuộc vận động lớn "Nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược". Các sư đoàn dự bị cơ động chiến lược: 308, 304, 320, 312 được kiện toàn thêm về tổ chức, trang bị, đẩy mạnh huấn luyện nhằm nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng, sẵn sàng hành quân vào chiến trường chiến đấu khi có lệnh.

Ðáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Quân ủy T.Ư quyết định thành lập Binh chủng Ðặc công. Ngày 19-3-1967, Binh chủng Ðặc công chính thức ra đời. Ngay sau đó binh chủng được lệnh khẩn trương tổ chức các đơn vị đặc công tăng cường cho các chiến trường, bổ túc đào tạo cán bộ đặc công cho toàn quân.

Trong năm 1967, Binh chủng đã huấn luyện 3.835 chiến sĩ, đào tạo 457 cán bộ trung đội phó, bổ túc và huấn luyện chuyển binh chủng cho 527 cán bộ từ cấp trung đội trưởng đến tiểu đoàn trưởng. Thực hiện quyết tâm chiến lược của Ðảng, binh chủng đã tăng cường cho các chiến trường 2.563 cán bộ, chiến sĩ, tổ chức thành một tiểu đoàn, 40 đội, bảy khung cán bộ tiểu đoàn, 30 khung cán bộ đội(3).

Tăng cường lực lượng chiến đấu trên chiến trường miền nam và cả ở hậu phương miền bắc, trong một thời gian ngắn, hàng vạn nam nữ thanh niên có trình độ văn hóa, có giác ngộ chính trị, có sức khỏe được động viên vào lực lượng vũ trang và thanh niên xung phong.

Từ tháng 3-1967 đến tháng 3-1968, 155.000 quân đã được đưa vào miền nam. Tính riêng trong năm 1967, đã có hơn 94.000 cán bộ, chiến sĩ (tăng 1,5 lần so với năm 1966) được tổ chức biên chế thành từng trung đoàn, sư đoàn bộ binh và binh chủng kỹ thuật bổ sung cho các chiến trường Trị Thiên, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, nâng tổng số quân giải phóng miền nam lên 220.000 quân chủ lực và 57.000 quân địa phương, không kể lực lượng dân quân, du kích, tự vệ.

Năm 1968, hơn 14 vạn cán bộ, chiến sĩ từ miền bắc hành quân vào nam nhanh chóng tham gia cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Các lực lượng vận tải, lực lượng bảo đảm giao thông, mở đường và các lực lượng bảo đảm khác... bao gồm hàng chục vạn người đều được động viên từ hậu phương lớn miền bắc. 

Bảo đảm khối lượng vật chất - kỹ thuật cho cuộc tổng tiến công, Chính phủ đã tăng tổng ngân sách quốc phòng cho quân đội lên gấp mười lần năm 1964 là năm cuối của thời kỳ hòa bình trên miền bắc, trước khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại. Năm 1968, các nước xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là Liên Xô, Trung Quốc viện trợ cho ta 517.493 tấn vật chất - kỹ thuật, tính thành tiền trị giá hơn 1.615 triệu rúp (1 rúp có giá trị tương đương 1 USD).

Chi viện cho chiến trường miền nam năm 1968 tăng 8,4 lần so với năm 1965. Các lực lượng vận tải và bảo đảm giao thông như công binh, vận tải quân sự, vận tải nhà nước, vận tải nhân dân... được củng cố và lớn mạnh vượt bậc.

Ðến năm 1968, số trung đoàn công binh trên miền bắc tăng gấp 1,2 lần, số tiểu đoàn công binh tăng gấp hai lần, số đại đội công binh tăng gấp 16 lần so với năm 1965. Lực lượng vận tải quân sự của Bộ Quốc phòng và của các quân khu tăng gấp bốn lần. Các loại phương tiện bắc cầu, bảo đảm vượt sông năm 1968 tăng 2,6 lần. Lực lượng vận tải nhà nước cũng tăng mạnh, trong đó một bộ phận khá lớn được huy động làm nhiệm vụ vận tải quân sự.

Ngoài ra, lực lượng vận tải nhân dân đông đảo với phương tiện và phương thức vận tải thô sơ nhưng rất hiệu quả cũng nhanh chóng được tăng cường, đặc biệt là ở những vùng trọng điểm giao thông, nơi địch đánh phá ác liệt. Toàn bộ lực lượng vận tải, bảo đảm giao thông, bảo vệ bờ biển và lực lượng phòng không chiến đấu bảo vệ giao thông vận tải được bố trí thành thế trận chiến tranh nhân dân liên hoàn, vừa tập trung, vừa rộng khắp, bảo đảm cho quân và dân ở hậu phương vừa chủ động tiến công địch, vừa sáng tạo ra nhiều phương thức vận chuyển, bảo đảm mạch máu giao thông. Tất cả nhằm nhanh chóng và kịp thời tiếp thêm sức mạnh cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở miền nam.

Trên tuyến vận tải quân sự chiến lược qua núi rừng Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh, trong năm 1967, Ðoàn 559 đã vận chuyển đạt chỉ tiêu kế hoạch cao hơn hai năm trước đấy cả về khối lượng, chất lượng và thời gian. Khối lượng vũ khí, đạn dược, lương thực được vận chuyển đạt hơn bảy vạn tấn; quân số bổ sung vào chiến trường là 14 vạn người gồm hai sư đoàn bộ binh, sáu tiểu đoàn binh chủng, đơn vị thực binh và các đơn vị đặc công.

Tăng cường đẩy mạnh công tác chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy, truyền tải sức mạnh của miền bắc cho miền nam, Bộ Tư lệnh Ðoàn 559 được Quân ủy T.Ư và Bộ Tổng Tư lệnh giao nhiệm vụ phải phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các chiến trường miền nam, với bạn Lào và hậu phương lớn miền bắc; chủ động, sáng tạo sử dụng mọi phương tiện, mọi biện pháp hữu hiệu nhất đẩy mạnh vận chuyển vật chất - kỹ thuật chi viện kịp thời, đầy đủ cho chiến trường miền nam.

Tổng cục Hậu cần quân đội khẩn trương điều chỉnh, bố trí các cung độ vận chuyển và chấn chỉnh hệ thống kho tàng, bến bãi. Trước khi bước vào chiến dịch vận chuyển, lực lượng bộ đội, thanh niên xung phong, công binh và nhân dân các địa phương có tuyến đường chiến lược đi qua đã mở mới và củng cố tuyến vận tải cơ giới gồm 725 km đường trục chính, 445 km đường trục phụ, 822 km đường ngang, 560 km đường vòng tránh các trọng điểm đánh phá của địch và 450 km đường vào kho lấy hàng, hình thành nên thế trận giao thông vững chắc bảo đảm vận chuyển thông suốt trong mọi tình huống và theo sát các hướng trọng điểm của Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

Tháng 10-1967, từng đoàn xe vận tải ở hậu phương miền bắc hối hả nối đuôi nhau chuyển đến các cửa khẩu đường 20 và 12 một khối lượng lớn vật chất - kỹ thuật. Ðoàn 559 huy động hơn 1.000 xe ô-tô vận tải sẵn sàng chuyển tiếp hàng hóa đến các chiến trường miền nam. Hai trăm xe nhận hàng chở đầy vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vượt cửa khẩu chở vào Ðông Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Sáu trăm xe vận chuyển vũ khí, hàng hóa cho mặt trận Tây Nguyên. Năm trăm xe vận chuyển hàng cho chiến trường Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế.

Ðến đầu tháng 11-1967, Ðoàn 559 mở đợt tổng công kích vận chuyển. Phong trào thi đua giành danh hiệu "Dũng sĩ vận tải", "Dũng sĩ phá bom", "Dũng sĩ mở đường" dấy lên sôi nổi trong các đơn vị vận tải, công binh và thanh niên xung phong. 

Chiến dịch Ðường 9 - Khe Sanh nằm trong tổng thể của cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Ðây là một hướng trọng yếu, vừa nhằm tiêu diệt địch để giải phóng Khe Sanh, tạo điều kiện mở rộng chính diện đường Hồ Chí Minh ở cả đông và tây Trường Sơn, vừa thu hút địch tạo thuận lợi cho các chiến trường lớn. Vì vậy, đây là chiến trường phải sử dụng một khối lượng lớn cả vật chất và binh lực.

Ðáp ứng yêu cầu này, Tiểu đoàn công binh 31, Ðoàn 559 được lệnh mở gấp tuyến đường B5 nối từ tuyến chiến lược đến Trạm 8 của Quân khu Trị - Thiên. Một số đơn vị khác khẩn trương mở rộng khu vực kho dã chiến ở Bản Ðông để tiếp nhận hàng từ hậu phương chuyển đến, sẵn sàng đưa vào chiến trường.

Ðối với hướng Thừa Thiên - Huế, đáp ứng yêu cầu của Bộ Tư lệnh Quân khu Trị - Thiên nhằm bảo đảm sức mạnh cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, Ðoàn 559 đã mở gấp trong 20 ngày đường 70 và 71, từ ngã ba Bình Ðiền nối đường 12 vào Huế để kéo pháo vào phía tây Bình Ðiền và vận chuyển hàng hóa đi sâu vào phía Tà Lương, đồng thời tiếp tế vũ khí, lương thực, thực phẩm cho mặt trận Trị Thiên - Huế. Nhờ đó, các binh trạm 9, 14, 32, 34, 41 đã huy động toàn bộ lực lượng mở nhiều chiến dịch liên tiếp, đưa đến các kho dự trữ của mặt trận Trị Thiên 7.000 tấn hàng, đạt 108% kế hoạch được giao.

Ðồng thời toàn bộ xe vận tải của Binh trạm 42 đã được huy động để vận chuyển gấp lương thực và đạn dược với khối lượng hơn 3.000 tấn phục vụ hướng Thừa Thiên; ba tiểu đoàn cao xạ 37 ly và 23 ly được giao nhiệm vụ bảo vệ các tuyến đường trên, bảo đảm giao thông vận tải và liên lạc từ Bộ Tư lệnh Trường Sơn với Bộ Tư lệnh Trị  Thiên được thông suốt.

Trong ba tháng 11, 12-1967 và tháng 1-1968, các đợt vận chuyển của Ðoàn 559 diễn ra càng sôi động, khẩn trương hơn trước nhằm chi viện kịp thời cho các chiến trường Ðường 9 - Khe Sanh, Thừa Thiên - Huế, Khu 5, Tây Nguyên, Nam Bộ, Trung - Hạ Lào, Cam-pu-chia. Trong đợt vận chuyển này có tám tiểu đoàn xe chở lương thực, thực phẩm, thuốc quân y, bốn tiểu đoàn xe chở súng đạn B.40, B.41, 12,7 mm, đạn hỏa tiễn nhập tuyến và 18 xe Gát 69 chở tiền đi thẳng vào ngã ba biên giới Tây Nguyên.

Từ đó, trung đoàn thuyền máy chuyển tiếp theo đường sông Sê Công từ Áttapư đến Kratie thuộc đất Campuchia để giao cho Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền. Khối lượng vật chất và binh lực từ hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn trong đợt này gồm ba vạn tấn vật chất, năm vạn quân bổ sung và 14 tiểu đoàn xe tăng, pháo binh.

Ðường Hồ Chí Minh trên biển cũng đã tham gia tiếp thêm sức mạnh của hậu phương lớn miền bắc cho tiền tuyến lớn miền nam trong Tổng tiến công và nổi dậy. Quân chủng Hải quân vừa tổ chức chiến đấu bảo vệ miền bắc, vừa tổ chức vận chuyển tiếp tế bằng đường biển vào các chiến trường Nam Bộ, Khu 5 hàng nghìn tấn vật chất - kỹ thuật.

Công tác vận chuyển của những chiến sĩ Hải quân trên biển đã diễn ra vô cùng gian khổ, ác liệt, nhiều người đã anh dũng hy sinh, thậm chí có lúc bị địch bao vây đã phải phá tàu, phi tang hàng để không rơi vào tay địch. Những hành động quả cảm của các thủy thủ mãi mãi là tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có tác dụng to lớn cổ vũ cán bộ, chiến sĩ ta tiến lên phía trước, quyết tâm giành thắng lợi.

Vượt qua muôn vàn khó khăn, ác liệt, trong hai năm 1967, 1968, các chiến sĩ vận tải, thanh niên xung phong, hải quân ở miền bắc đã vượt Trường Sơn  và  Biển  Ðông  chi  viện kịp thời cho miền nam 118.923 tấn vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh và 42.619.081 USD cộng với 122.885 tấn vật chất do Trung Quốc chi viện quá cảnh qua cảng Xi-ha-núc (số liệu ba năm 1966, 1967, 1968)(4).

Ðộng viên sức mạnh của hậu phương miền bắc chi viện to lớn và kịp thời cả về sức người và sức của - hai nhân tố chiến lược quan trọng trong chiến tranh - đã góp phần quyết định trong việc tăng cường sức mạnh của lực lượng cách mạng ở miền nam, tạo ra thế mới và lực mới để quân và dân ta mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy lịch sử Mậu Thân 1968. Hoạt động tổ chức, chi viện chiến trường miền nam thời kỳ chuẩn bị và tiến hành Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm có giá trị, và những kinh nghiệm này đã phát huy tác dụng to lớn trong những năm sau này, đặc biệt là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

---------------------------

(1). Nghị quyết này của Bộ Chính trị sau đó được Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (tháng 1-1968) thông qua và trở thành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 14 của T.Ư Ðảng.

(2). Ðảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Ðảng toàn tập, Tập 29, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 50.

(3). Bộ Quốc phòng-Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử quân đội nhân dân Việt Nam, Tập 2, quyển 1, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1988, tr. 372.

(4). Bộ Quốc phòng - Viện Lịch sử quân sự Việt Nam: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 - 1975, Tập V: Tổng tiến công và nổi dậy 1968, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 48.

Có thể bạn quan tâm