Giờ khó có thể phân biệt ranh giới giữa Hà Nội và Hà Tây cũ. Ði trên quốc lộ 32, qua phần địa phận huyện Từ Liêm, ta gặp các khu đô thị mới Kim Chung - Di Trạch, Vân Canh (huyện Hoài Ðức). Ở mạn tây nam, khu vực quận Hà Ðông, quận Thanh Xuân, những tòa nhà cao tầng nối liền một dải. Tốc độ đô thị hóa ở các huyện thuộc Hà Tây (cũ) nhanh đến không ngờ. Khi Hà Nội - Hà Tây sáp nhập, nhiều người băn khoăn về sự mai một của văn hóa xứ Ðoài. Bởi, đô thị hóa thường "xung đột" với văn hóa truyền thống. Nhưng sự khởi sắc hay mai một của một dòng văn hóa, còn phụ thuộc vào thái độ ứng xử của con người...
Cách khu đô thị mới Kim Chung - Di Trạch không xa là làng cổ Sơn Ðồng (xã Sơn Ðồng, huyện Hoài Ðức). Ngôi làng này được nhiều người biết đến, bởi có một lớp dạy chữ Hán Nôm của "ông giáo làng" Nghiêm Quốc Ðạt. Sơn Ðồng là đất khoa bảng, nơi đây có tám tiến sĩ đỗ đạt trong các triều đại phong kiến. Nhưng một ngày, khi ngẫm chuyện xưa, các cụ cao niên không khỏi giật mình: Số người tinh thông Hán học chỉ còn trên đầu ngón tay, lớp trẻ có điều kiện học tập hơn, nhưng nhiều cháu lại chưa ngoan. Ông Ðạt bảo: Bọn trẻ chưa ngoan bởi chúng chưa hiểu được đạo làm người. Ông Ðạt đã tình nguyện mở dạy chữ Hán Nôm miễn phí, lấy tên là lớp học Hán Nôm Sao Khuê.
Ðến lớp học của thầy Ðạt, môn sinh phải làm lễ nhập môn, vì theo thầy giáo này, muốn học chữ, trước hết là học làm người. Lễ nhập môn để học trò hiểu đạo kính thầy. Hiếm có lớp học nào trên đất nước Việt Nam mà học trò cao niên nhất ở tuổi... 82, môn sinh nhỏ nhất mới... lên 5. Ở lớp Sao Khuê, học trò tuổi nào cũng có thể tiếp thu, bởi ông giáo thường dạy chữ bằng... thơ. Những học trò ít tuổi nhập môn, thường được nghe bài thơ: "Phải nên học, chớ ham chơi/ Không nên gần những thói đời trắng đen". Ông luôn bảo: Chữ nhân - chữ nghĩa là cái gốc của con người. Với mỗi chữ, ông Ðạt thường giảng giải rất kỹ về ý nghĩa, nhất là về nhân - lễ - nghĩa - trí - tín, nền nếp gia phong, đạo lý làm người... Nhiều người ở Sơn Ðồng có con cái chưa ngoan, đã gửi con đến theo học lớp Sao Khuê; có thanh niên nổi tiếng ngỗ ngược, từ những buổi nghe giảng về nhân, về nghĩa, đã ngộ ra nhiều điều, trở thành người có ích.
Tuổi ngoài 70, ông giáo Ðạt có phong thái ung dung, đĩnh đạc. Có phải vì ông giàu có, dư dả, nên cuối đời dành thời gian làm việc nghĩa? Không phải. Thu nhập của ông rất khiêm tốn, chỉ là tiền lương làm bảo vệ Trường tiểu học Sơn Ðồng. Căn nhà 60 m2 của gia đình ông là chỗ cư trú của bốn cặp vợ chồng, gồm vợ chồng ông và vợ chồng ba người con trai. Nhưng ông vẫn hằng tuần hai buổi lên lớp. Học trò giục ông thu tiền, ông bảo: Có người theo học là quý lắm rồi. Sau năm năm mở lớp, đã có 420 "ông đồ" tốt nghiệp. Có những người đã trở thành người viết thư pháp chuyên nghiệp, có người làm nghề khắc chữ...
Xứ Ðoài là một trong số ít những tiểu vùng văn hóa được vinh danh là đất "văn hiến". Văn hóa xứ Ðoài không chỉ được tạo nên từ những danh nhân, nhà nghiên cứu, hay những cán bộ văn hóa, mà còn được gây dựng từ những con người bình dị. Giống như ông giáo Ðạt, Trung tá công an Ðào Hà, công tác tại Phòng Nghiệp vụ An ninh chính trị (Công an TP Hà Nội), nhưng anh vẫn được nhiều người yêu mến gọi là nhà "xứ Ðoài học". 53 tuổi đời thì có ngót 20 năm, anh lang thang khắp các hang cùng ngõ hẻm của xứ Ðoài, khơi dậy những mạch văn hóa đang còn ẩn khuất. Ðến làng nào, anh cũng được các cụ cao niên quý mến, vì để tìm hiểu vấn đề gì, anh sẵn sàng đi đi lại lại đến mòn lốp xe. Quê anh ở xã Tân Hội (huyện Ðan Phượng), nơi có điệu hát Chèo Tàu nổi tiếng. Nhiều học giả đã về Tân Hội nghiên cứu, nhưng chưa có một kết luận nào thỏa đáng về nguồn gốc Chèo Tàu. Trung tá Ðào Hà cũng vậy, không biết bao lần về làng, rồi ra đi với một mớ bòng bong suy tư trong đầu. Bỗng một lần anh gặp được cụ giáo già, cụ bảo: Tôi đã để dành tài liệu cho cậu từ lâu rồi. Hỏi ra mới biết, nghe tiếng anh ham nghiên cứu, cụ có tài liệu, nhiều nhà nghiên cứu hỏi, cụ không cho mượn, nhất định đợi anh. Ðó là một cuốn sách cổ có tên Cối Lâm tiểu dẫn (Cối Lâm là tên cũ của xã Tân Hội), được viết đầu thế kỷ XX, về lịch sử Chèo Tàu. Kết nối thông tin của Cối Lâm tiểu dẫn với những cuốn sách cổ ở đây như: Dư địa chí, Tàu tượng ca khúc, Dư đồ trận..., Ðào Hà đã dựng lại nguồn gốc Chèo Tàu. Anh cho rằng, Chèo Tàu bắt nguồn từ việc ca ngợi công lao của vị tướng Văn Dĩ Thành - người lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa chống quân Minh đầu thế kỷ XV. Ðến giờ, công bố này đã được công nhận rộng rãi.
Anh Ðào Hà hiện là Chánh Văn phòng CLB Văn nghệ sĩ xứ Ðoài. Những nhân vật chủ chốt trong câu lạc bộ như họa sĩ Phan Kế An, nhà văn Hồ Phương... đều cao tuổi, nên từ công tác tổ chức đến kinh phí của CLB đều có đóng góp của anh. Nhờ vậy, CLB Văn nghệ sĩ xứ Ðoài đã lớn mạnh, với 400 thành viên. Anh còn tích cực tham gia làm phim. Chỉ riêng với kênh Văn hóa Việt VTC 10, Ðào Hà làm cố vấn, kiêm nhân vật dẫn chuyện cho 15 phim tài liệu về xứ Ðoài. Tôi hỏi, anh làm thế nào để cân bằng được giữa công việc của một chiến sĩ công an, công việc gia đình, với việc nghiên cứu và cả sáng tác thơ nữa? Ðào Hà cười: "Trốn vợ để đi nghiên cứu vào những ngày nghỉ". Mải mê nghiên cứu, nhiều năm nay, Ðào Hà hầu như không có ngày nghỉ.
Ðiều gì khiến những con người ấy tự nguyện bỏ công sức, tiền của, thời gian để nghiên cứu, phát triển văn hóa xứ Ðoài, nếu không phải lòng tự hào, là khát vọng muốn văn hóa xứ Ðoài mãi vững bền? Nếu ở Sơn Ðồng, trẻ lên 5 mài mực học Hán tự, thì ở làng Bá Giang (xã Hồng Hà, huyện Ðan Phượng, được công nhận là Làng Diều truyền thống), trẻ vừa biết chạy đã bắt đầu học chơi diều, chơi sáo. Người Kẻ Bá chơi diều tinh đến nỗi, nghe tiếng sáo, biết con diều đó của ai. Cái khó ở chỗ phải tạo được tiếng sáo có nét riêng. Có người đi tìm tiếng sáo từ lúc còn trẻ, về già mới được tiếng sáo ưng ý. Ở Kẻ Bá, người nổi tiếng nhất là Nghệ nhân Nguyễn Hữu Kiêm. Ông cùng cụ thân sinh là Nguyễn Hữu Ngọ có công lớn trong gìn giữ nghệ thuật chơi, đặc biệt là khôi phục Hội Thả diều Bá Giang. Nghệ nhân Nguyễn Hữu Kiêm không nhớ mình đã đến bao nhiêu làng diều truyền thống để tìm hiểu, đã dự bao cuộc liên hoan diều. Từ ngày còn công tác ông đã hay đi, đến khi về hưu đi càng khỏe. Ông là "pho sách sống" về diều. Hai người con trai lớn của ông là Nguyễn Hữu Chiến, Nguyễn Hữu Thắng đều mê diều. Có buổi chiều, cả ba thế hệ rủ nhau lên đê thi diều cao thấp, đứa cháu nội hơn 10 tuổi cũng ham diều... Ðiều gia đình người nghệ nhân mong muốn là để mọi người thêm hiểu về cái đẹp trong thú chơi diều của những làng quê Việt - giản dị mà thanh tao.
Còn nhiều lắm, những con người chưa được biết đến, nhưng vẫn hằng ngày, nuôi dưỡng mạch văn hóa truyền từ nghìn năm trước. Ở làng Phú Nhiêu (huyện Phú Xuyên) có ông Lương Ðức Nghi, người đạp xe đi hết 138 làng của huyện Phú Xuyên để tìm lại văn hóa cổ. Ở làng Ða Sỹ (quận Hà Ðông), cụ Trịnh Quốc Hoàn, sau nhiều năm nghiên cứu, để lại cho con cháu cuốn Lại... việc làng - một cuốn "từ điển văn hóa" của Ða Sỹ... Lớp người này ra đi, lại có lớp khác thay thế. Với xứ Ðoài, bề dày văn hóa đã được hun đúc thành bản lĩnh văn hóa. Trước những biến đổi mạnh mẽ của thời cuộc, dòng chảy ấy vẫn bền bỉ, làm giàu thêm văn hóa Hà Nội hôm nay.