Lính công binh trên miền Tây Bắc

Ðất nước ngày càng đổi thay, và trong sự đổi thay ấy, có mồ hôi, công sức của những anh "Bộ đội Cụ Hồ". Với những người lính công binh cũng vậy, họ vẫn có mặt trên mọi nẻo đường đất nước. Cảm động hơn những ngày này, có thể gặp họ bất kỳ lúc nào trên độ cao nghìn mét giữa điệp trùng núi rừng Tây Bắc...

Mười năm về trước, khi đường Hồ Chí Minh của thời công nghiệp hóa - hiện đại hóa vừa phóng xong tuyến cũng là khi những người lính công binh có mặt kịp thời,  làm nhiệm vụ dò gỡ bom mìn. Tôi cùng một số nhà văn, nhà thơ ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào đèo Ðá Ðẽo - Quảng Bình để thâm nhập thực tế ở một đơn vị công binh. Cùng đi với tôi ngày ấy có nhà văn Nguyễn Thị Như Trang, nhà văn Sương Nguyệt Minh và Quỳnh Linh. Chặng đường như bớt dài hơn bởi những kỷ niệm của thời chiến tranh được bồi hồi nhắc lại qua câu chuyện của chị Như Trang, anh Sương Nguyệt Minh... Chúng tôi đến chân đèo Ðá Ðẽo khi trời đã lưng lửng chiều, thế mà nắng tháng sáu vẫn gay gắt. Lán dã chiến chỉ còn một anh chỉ huy ở nhà để đón chúng tôi và cô cấp dưỡng đang lúi húi sửa soạn bữa chiều. Mấy giò phong lan đung đưa trong gió. Tiếng khướu hót rất gần. Nắng gió miền trung, kham khổ đến sắt người lại thế mà vẫn mê hoa, mê chim, đúng là lính công binh thứ thiệt.

Vẫn còn đó những dấu tích của đường Trường Sơn thời bom đạn. Mặt đường bị mưa nắng bào mòn trơ đá lởm chởm. Lau lách mọc tràn ra rậm rạp, có nơi đường thu hẹp lại như một lối mòn cũ kỹ. Rừng nguyên sinh âm u thưa vắng bóng người nhưng ẩn giấu biết bao dấu tích chiến tranh. Dưới nền đường, dưới tầng cây, thảm lá mục, lau lách cỏ dại còn sót lại cơ man là bom đạn. Không thể không rùng mình khi chứng kiến hàng đống bom đạn anh em ta lôi lên từ lòng đất ẩm ướt tối tăm. Bom tấn. Bom tạ. Bom sát thương. Bom từ trường. Bom bi. Ðạn pháo. Ðạn cối. Lựu đạn. Bộc phá. Rốc-két. Mìn chống tăng. Mìn lá. Ðủ cả. Chiến tranh dường như vẫn còn nguyên vẹn dưới lớp đất rừng. Trường Sơn thời đánh Mỹ dày đặc những 'túi bom'. Ðèo Ðá Ðẽo, ngầm Tà Lê, Cổng Trời, Bãi Dinh, Khe Ve, Khe Tang... đều là những 'túi bom'. Hàng triệu tấn bom đạn dội xuống đường 12, đường 15, đường 20... của Trường Sơn. Theo cuốn sách Con đường chiến lược Trường Sơn - Ðường Hồ Chí Minh một thành công kiệt xuất trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp thì: 'Trong vòng 10 năm, từ 1965 đến 1975, ước tính đế quốc Mỹ đã huy động khoảng 700 nghìn lần chiếc máy bay, kể cả B52, dội gần bốn triệu tấn bom đạn suốt trên dải núi rừng đại ngàn của tuyến đường Ðông Trường Sơn và Tây Trường Sơn'. Ngoài số bom đạn đã nổ, đố ai biết còn bao nhiêu quả đang nằm im trong lòng đất. Do vậy, người lính công binh vẫn phải đối mặt với cái chết ngay giữa thời bình. Một cuộc chiến thật sự cam go và nguy hiểm. Họ có thể ngã xuống bất cứ lúc nào trong cuộc chiến thầm lặng mà không phải ai cũng biết tới này.

Trước mắt tôi là những lá cờ đuôi nheo đỏ thắm nhỏ bé cắm dọc theo tuyến đường, báo hiệu những vuông đất bình yên, mà chỉ một thời gian sau thôi, một con đường hiện đại sẽ qua những vuông đất đó. Xóm làng, phố xá đông vui được lập lên từ những vuông đất này. Bây giờ và cả mai sau, ai nhớ, ai quên những người lính công binh đã đổ biết bao mồ hôi và cả máu nữa, để làm sạch di hại chiến tranh trên từng mét đất. Và biết đâu, sẽ có người chỉ hình dung về người lính công binh qua ca từ đầy lãng mạn: 'chiếc cầu là nơi hò hẹn của đôi ta, đêm trăng sáng chân cầu em giặt áo, đêm trăng sáng trên cầu anh thổi sáo, nhịp cầu nối những bờ vui...'.

Chiến sĩ Nguyễn Văn Hòa ở Tiểu đoàn 93 cũng đã hát bài này cho người yêu nghe. Cô gái Quảng Bình nhỏ nhắn xinh tươi đã nhận lời yêu của chàng lính công binh quê mãi tận Lương Sơn, Hòa Bình. Họ đã hát với nhau dưới chân đèo Ðá Ðẽo, 'anh vào bộ đội làm cầu treo qua suối, anh bắc cầu phao qua khúc sông sâu, anh nối nhớ thương bằng những nhịp cầu...'. Ðêm ấy, trăng rất đẹp. Từng đợt gió ào ạt thổi từ trên đèo xuống. Một vì sao băng vụt cháy qua khoảng trời ngập tràn ánh trăng. Ðôi chim từ quy vẫn thống thiết gọi nhau trong cánh rừng đêm không xa mấy. Hai người chia tay ra về. Dùng dằng. Bồn chồn. Hình như đang còn thiếu một điều gì đấy... Rồi ngày mai. Một ngày dài bằng thế kỷ của cô gái. Một tiếng nổ chát chúa, khô khốc vang lên trên hiện trường. Một quả bom bi phát nổ. Hòa hy sinh khi đang làm nhiệm vụ. Cô gái đã xin gia đình đội tang cho anh. Một vành khăn trắng toát buộc lên mái tóc dài mượt đen nhánh của tuổi mười chín đang xuân...

Tôi kể lại chuyện này với những người bạn là lính công binh cùng đi với tôi trên chặng đường vào Mường Hung - Tây Bắc. Chẳng hiểu sao, lại bắt qua truyền thuyết hoa ban. Câu chuyện tình của nàng Ban và chàng Khun. Cũng đều là những mối tình rất lãng mạn nhưng lỡ làng chia cắt. Một mối tình đã đi vào truyền thuyết và một mối tình ghi dấu vào hồi ức đồng đội nhưng chưa kịp đặt tên. 

Trên độ cao nghìn mét của điệp trùng Tây Bắc, đường tuần tra biên giới đang hình thành. Con đường đỏ au, uốn lượn chạy song song với đường biên cột mốc này sẽ là một công trình vĩ đại của đất nước, nối từ Móng Cái, Quảng Ninh về Ðất Mũi, Cà Mau. Hèn chi, Thiếu tá Võ Quang Minh chỉ huy Tiểu đoàn Công binh Cầu đường - Ngụy trang 3, ví đây như là 'vạn lý trường thành' của Việt Nam. Ví von có thể là khập khiễng, nhưng tôi đọc được trong đó niềm tự hào dân tộc. Và đây, chính là cội nguồn sức mạnh của những người lính. Những người lính công binh đang chịu cảnh xa nhà, treo mình trên những vách núi mở đường cho Tổ quốc.

Với người lính công binh, chuyện làm đường thật ra  chẳng có gì là mới lạ. Ðó là quy trình khảo sát - dự toán - phóng tuyến - dò gỡ bom mìn - lên 'ga' cắm cọc - thi công. Nhưng, ở đây hình như còn có cái gì khác nữa. Một điều gì đó cao hơn, sâu hơn chuyện làm đường khi tôi được tận mắt thấy sự chịu đựng gian khổ cả về vật chất lẫn tinh thần của người lính công binh trong thời bình. Giữa trưa, phong phanh tấm áo mỏng nhưng đến tối khi ngủ phải đắp chăn bông dày sụ. Mùa đông, có lúc chỉ 2 độ C. Thời tiết Tây Bắc lại đỏng đảnh thất thường. Ðang nắng oi oi đó đã mù mây lãng đãng. Một vùng đất thưa vắng bóng dân. Lưng chừng núi Fu Toong chỗ đóng quân của Tiểu đoàn 3 chỉ có bản Huổi của huyện Sông Mã, vào xa hơn nữa tận huyện Sốp Cộp nơi thi công của Lữ đoàn 249, vượt sông thì có bản Nà Khi. Trăm cái khổ đổ lên vai người lính. Mùa mưa, đường trơn suối dữ đi lại hết sức khó khăn. Ði công tác phải mang lương khô, mì ăn liền theo, dù từ nơi thi công ra thị trấn Sông Mã, thị trấn Sốp Cộp không xa lắm, nhưng chuyện tắc đường do lở đất, lũ quét, lũ ống có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Anh Ðỗ Ðức Phong, cán bộ chỉ huy Lữ đoàn 249 kể rằng, đơn vị anh phải mất trọn một tháng mới đưa được xe, máy thi công từ Suối Hai vào Sốp Cộp. Ô-tô, máy xúc, máy ủi, máy gạt phải 'bò' từng mét, vừa hành quân vừa bảo dưỡng, gặp nước suối to đành phải hạ trại nấu ăn, ngủ nghỉ bên đường. Vào đây bằng ô-tô hiện đại, nhưng đôi khi chúng tôi cũng thót tim khi xe qua những đoạn cua tay áo gấp khúc. Những cung đường ngoằn ngoèo chóng mặt, những con dốc lên trời xuống lũng thăm thẳm. Thế mà những cỗ máy xúc, máy ủi, máy gạt... kềnh càng phải hành tiến qua các cung đường như thế. Vào mùa khô thì đến nước cũng thiếu chứ đừng nói gì tới rau quả. Ðất rộng nhưng trồng rau đâu có dễ. Nước hiếm, gió Lào thổi thông thống khô khốc suốt ngày, ít rau nào chịu được. Mà có trồng rau thì đám trâu bò thả rông, đêm đêm còn đến cọ sừng vào vách lán bộ đội sàn sạt, thì rau chắc cũng chẳng tha. Lại còn thêm cái nỗi ở 'ngoài vùng phủ sóng'. Ðiện thoại di động hầu như đã trở thành vô dụng. Liên lạc chủ yếu bằng máy 15W. Thế mà, anh em ở Lữ đoàn 249 kể: 'Có lúc cũng được hưởng tí sóng rơi, sóng vãi của mạng Vi-na-phôn'. Chẳng là trên đỉnh núi cao 1.480 mét mốc D7 biên giới có ô đất rộng chừng 20 mét vuông, đến đó có thể gọi điện thoại di động được, tuy rất phập phù. Chao ôi, cái sự phập phù ấy làm sao mà tải hết cho được những nhớ thương của bao cặp vợ chồng, cha con, người yêu đằng đẵng xa nhau.

Những người lính công binh Tiểu đoàn 3, Công ty 49, Lữ đoàn 239, 249 có mặt trên biên cương Tây Bắc Tổ quốc. Người lính chạy đua với thời gian. Núi rừng Tây Bắc chênh vênh, hiểm trở. Nắng gió Tây Bắc hong hao ào ạt. Mùa mưa cũng dữ dội không kém... Những vách đá 'xít' liền khối cao bốn năm chục mét đã bị lính công binh chinh phục. Con đường tuần tra biên giới ngày mỗi ngày lại được mở dài thêm trên một vùng biên viễn điệp trùng. Con đường đi cùng vạn dặm biên cương của đất nước thân yêu qua miền Tây Bắc đang hiện rõ dần vóc dáng, rộng bảy mét, phần mặt có ba mét đổ bê-tông. Muốn nói một câu gì đó với những người lính đen cháy, ròng ròng mồ hôi đang khoan đá, đang lái máy xúc, máy ủi... ở Sốp Cộp, Mường Hung mà chẳng nên lời. Cao hơn, sâu hơn chuyện làm đường chính là tình cảm thiêng liêng của người lính nơi cương vực cõi bờ Tổ quốc. Ðã có truyền thuyết hoa ban, hoa mộc miên, biết đâu mai sau còn có cả truyền thuyết về những người lính công binh mở đường Tây Bắc...

Dân bản Huổi, bản Nà Khi đã coi bộ đội công binh là người của bản mình. Trong đám cưới con trai gia đình ông Cầm Văn Nọi, bà con tặng khăn piêu và gối cho các anh. Nhận khăn, nhận gối, anh cán bộ của Bộ Tư lệnh Công binh đi cùng hỏi tôi: 'Tôi định mang khăn piêu và gối này về trưng bày ở Bảo tàng Binh chủng, nhà thơ thấy có nên không?'. Vâng, quá sáng suốt, một biểu hiện đẹp của tình quân dân thời bình - tôi trả lời. Và đúng thế, trên chuyến xe về xuôi của chúng tôi bên dư âm ấm áp từ tuyến đường tuần tra biên giới Tây Bắc còn có thêm một chiếc khăn piêu, một chiếc gối cùng với bài Tình ca mượt mà của người Thái: 'Ta yêu nhau khi ban còn đơm nụ -  Ta yêu nhau khi ban nở trên cành - Ban sẽ héo mong ban trở lại cành - Ban sẽ rụng mong ban rụng về gốc'...

Có thể bạn quan tâm