Liên doanh trồng rừng: Dân giàu, môi trường được bảo vệ

Tỷ lệ độ che phủ của rừng ở Tuyên Quang đạt 63%, dẫn đầu cả nước.

Tháng 3-2003, UBND tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Quyết định số 155/QÐ-CT, cho phép những hộ nông dân có diện tích đất lâm nghiệp liền thửa, liền vùng, liền khoảnh nằm trong vùng quy hoạch trồng rừng NLG đang được sử dụng ổn định, không có tranh chấp, được dùng giá trị quyền sử dụng (QSD) đất làm vốn góp liên doanh đầu tư trồng rừng.

Chỉ tính hai năm (2003-2004), toàn tỉnh có 1.758 hộ nông dân tham gia ký hợp đồng liên doanh, họ đã đầu tư hơn 389,8 nghìn ngày công lao động, trồng hơn 1.903 ha trong tổng số hơn 3.303,4 ha rừng NLG. Riêng năm 2004, Tuyên Quang có 1.511 hộ trồng rừng, trồng được hơn 13.584,4 ha, tăng năm lần so năm 2003. Bình quân mỗi hộ trồng mới được hơn một ha.

Ông Kiều Ðức Mạnh, Phó trưởng thôn Ðồng Lem, xã Lưỡng Vượng, huyện Yên Sơn cho biết, năm 2003 cả thôn Ðồng Lem có 30/70 hộ góp giá trị QSD hơn 30 ha đất (mỗi ha là sáu triệu đồng) làm vốn liên doanh với lâm trường Nguyễn Văn Trỗi đầu tư trồng keo lai giâm hom làm NLG, với thời gian sáu năm. Nội dung hợp đồng liên doanh ghi rõ các điều cam kết về trách nhiệm và quyền lợi các bên tham gia.

Với lâm trường (bên A) thực hiện các công việc: lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật, dự toán trồng rừng, kiểm tra việc trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ và khai thác rừng trồng; cung ứng đủ vốn (theo định mức kinh tế kỹ thuật) đến từng khâu, từng công đoạn sản xuất; cung cấp đủ, kịp thời giống cây trồng, phân bón và các vật tư khác, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân làm nghề rừng NLG. Bên A phối hợp hộ liên doanh (bên B) thực hiện công tác phòng, chống cháy rừng, dịch bệnh hại rừng; nghiệm thu và thanh toán kịp thời từng khâu công việc sau khi hoàn thành; bao tiêu 100% sản phẩm và công khai phân phối lợi nhuận với bên B.

Bên B có nhiệm vụ tổ chức lao động để trồng rừng NLG, trên nguyên tắc thỏa thuận, hộ làm việc gì, khâu nào được bên A trả công của việc ấy; khâu nào không thực hiện được, phải thông báo ngay cho bên A biết để tổ chức thực hiện đúng quy trình của công việc đó. Hợp đồng liên doanh trồng rừng NLG không quá sáu năm, với sản lượng 300 m3 gỗ. Bên B được hưởng 100% sản phẩm tận thu trong quá trình tỉa thưa, 100% sản phẩm gỗ vượt mức quy định.

Lợi nhuận trồng rừng là số tiền thu được từ bán sản phẩm NLG (trừ các khoản chi phí bao gồm: giá trị QSD đất, chi phí trồng, chăm sóc, bảo vệ khai thác và tiêu thụ sản phẩm) phân phối theo tỷ lệ vốn góp mỗi bên hoặc theo tỷ lệ B hưởng 81%, A hưởng 19%.

Ông Kiều Ðức Mạnh còn cho biết, 30 hộ thôn Ðồng Lem sau khi trồng rừng theo cơ chế liên doanh đã tự nguyện thành lập tổ hợp tác để bảo vệ rừng. Ở nhiều nơi khác cũng có cách làm tương tự như lâm trường Nguyễn Văn Trỗi và các hộ ở thôn Ðồng Lem.

Các hộ tham gia liên doanh trồng rừng được ứng trước vật tư, tiền vốn, hướng dẫn áp dụng khoa học, kỹ thuật, tiền vốn từ việc góp đất, hưởng giá trị sản phẩm phụ và sản phẩm vượt mức hợp đồng, có việc làm, thêm thu nhập và được bao tiêu 100% số sản phẩm, họ phấn khởi, yên tâm đầu tư sản xuất, tìm mọi biện pháp giảm chi phí.

Theo ông Nguyễn Văn Thịnh, cán bộ kỹ thuật lâm trường Nguyễn Văn Trỗi, cho biết, các hộ nông dân trồng rừng liên doanh, vốn đầu tư giảm được 19% so với lâm trường tự làm.

Ðối với doanh nghiệp, cái lợi lâu dài là chủ động được nguồn nguyên liệu gỗ, đáp ứng nhu cầu công nghiệp giấy; có điều kiện giám sát chất lượng nguyên liệu ngay từ khâu đầu, giảm được rủi ro trong kinh doanh, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Có thể bạn quan tâm