Ðột phá từ... nông - lâm - thủy sản
Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Kiên Giang xác định đây là vùng đất thuần nông, do đó đột phá trong sản xuất nông nghiệp sẽ tạo đòn bẩy thúc đẩy "tam nông" đi lên. Ðó là lý do vì sao xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa được xác định là hướng đi chính của kinh tế Kiên Giang. Bên cạnh đó, tích cực phát triển thương mại - dịch vụ, ngành nghề nông thôn tạo công ăn việc làm cho người lao động trong những lúc nông nhàn. Trong phát triển nông nghiệp, tỉnh Kiên Giang đã thực hiện việc rà soát, điều chỉnh, bố trí lại sản xuất. Ngoài việc giữ vững diện tích đất nông nghiệp, mười năm qua, tỉnh Kiên Giang đã khai hoang và đưa vào sản xuất hơn 20 nghìn ha đất, chuyển dịch 60 nghìn ha đất lúa vùng ven biển hiệu quả thấp sang sản xuất một vụ tôm - một vụ lúa. Ðiều chỉnh và giữ diện tích rừng hiện có gần 86 nghìn ha, chuyển hơn 26 nghìn ha rừng sản xuất vùng tứ giác Long Xuyên sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản, nâng tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp lên gần 439 nghìn ha, trong đó đất sản xuất lúa chiếm 78%.
Với diện tích đất canh tác lớn, tỉnh Kiên Giang đã thực hiện đa dạng hóa sản xuất nhằm tăng thu nhập trên mỗi ha đất canh tác, như nuôi luân canh tôm - cá trong mùa lũ với sản xuất hai vụ lúa; nuôi xen tôm - cá với trồng lúa, rừng tràm, mương liếp trồng cây công nghiệp, cây ăn trái và trồng luân canh rau màu trên nền đất hai vụ lúa phù hợp với từng vùng. Nhiều mô hình sản xuất nông-lâm-thủy sản kết hợp cho doanh thu từ 30 đến 50 triệu đồng/ha, cá biệt có những mô hình đạt doanh thu lên tới 50 đến 70 triệu đồng/ha. Không chỉ vậy, Kiên Giang cũng đã xây dựng được một số vùng trồng cây công nghiệp, cây ăn trái trong đó có gần bốn nghìn ha mía, hơn bảy nghìn ha dứa (thơm, khóm) cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến của tỉnh. Kiên Giang cũng đang triển khai thực hiện dự án 100 nghìn ha lúa chất lượng cao phục vụ xuất khẩu; hình thành mô hình sản xuất rau màu sạch, hoa, cây cảnh phục vụ du lịch, và các khu đô thị. Mối quan hệ trong sản xuất cũng được củng cố và phát triển phù hợp với từng loại hình sản xuất. Ðến nay, toàn tỉnh có hơn 130 hợp tác xã và gần 2.400 tổ hợp tác, trong đó tỷ lệ hộ tham gia kinh tế tập thể chiếm hơn 20% số hộ nông nghiệp. Hơn chín nghìn trang trại, với quy mô trang trại gia đình gần năm ha, trang trại doanh nghiệp từ 10 ha đến một nghìn ha; doanh thu hơn một tỷ đồng/năm đối với trang trại doanh nghiệp và hơn 73 triệu đồng/năm đối với trang trại gia đình. Từ đó đã góp phần đưa giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản tăng trưởng bình quân hơn 15% mỗi năm. Ðồng chí Trương Quốc Tuấn, Ủy viên T.Ư Ðảng, Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang cho biết: Kết quả khảo sát tình hình phát triển "tam nông" ở 12 xã thuộc chín huyện trong tỉnh, vừa qua cho thấy, bức tranh sản xuất nông nghiệp của tỉnh Kiên Giang khá sáng sủa, có sự tăng trưởng và phát triển cả về lượng và chất. Ðây cũng là nguyên nhân đưa vị thế nông nghiệp của tỉnh Kiên Giang lên cao trong khu vực và cả nước.
Nông dân huyện Tân Hiệp phơi thóc
sau thu hoạch.
Ðầu tư hạ tầng điểm nhấn của phát triển nông thôn
Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều vùng nông thôn ở tỉnh Kiên Giang "bốn không": không đường, không điện, không trường, không trạm y tế; nhiều xã tỷ lệ hộ nghèo lên đến 70-80%. Chính vì vậy, việc tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng sẽ là điểm nhấn để tạo diện mạo mới cho "bức tranh" nông thôn. Tuy nhiên nhiều năm liền việc phát triển hạ tầng ở Kiên Giang chỉ đầu tư vào những vùng trọng tâm, trọng điểm. Bước đột phá chỉ bắt đầu khi Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về "Ðẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010" ra đời và tiếp đó là Nghị quyết số 26, Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (khoá X) "Về nông nghiệp, nông dân và nông thôn". Chỉ tính trong giai đoạn 2005-2010, kết hợp với nguồn vốn Trung ương, tỉnh Kiên Giang đã dành hơn 35% tổng chi ngân sách hằng năm để đầu tư xây dựng cơ bản, chủ yếu là lĩnh vực thủy lợi, giao thông, điện, nước, cụm tuyến dân cư... tạo thuận lợi trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Riêng nguồn vốn xây dựng mới, mở rộng cải tiến công nghệ các cơ sở công nghiệp chế biến, xuất khẩu nông thủy sản đã đạt hơn 2.100 tỷ đồng. Kiên Giang cũng đầu tư hơn 400 tỷ đồng xây dựng 73 cụm tuyến dân cư và bốn đê bao vùng ngập lũ, gắn với việc xây dựng các chợ ở khu dân cư tập trung. Ðến nay sáu nghìn hộ dân ở những vùng ngập lũ, diện giải tỏa đã có nơi ăn, chốn ở ổn định.
Theo khảo sát tại 12 xã của tỉnh Kiên Giang mới đây cho thấy, thời gian qua xã được đầu tư nhiều nhất hơn 35 tỷ đồng, ít nhất cũng hơn 10 tỷ đồng. Vốn dùng cho sản xuất nông nghiệp cũng được các ngân hàng và tổ chức tín dụng đưa về. Có xã chỉ trong ba năm, nguồn vốn cho hộ nông nghiệp và đánh bắt thủy sản vay đến gần 30 tỷ đồng. Ðồng chí Trương Quốc Tuấn nhận xét: "Tuy bình quân suất đầu tư trên một nông hộ chưa thật cao, song đây là sự cố gắng lớn của toàn hệ thống chính trị và các doanh nghiệp tài chính trong và ngoài tỉnh. Từ đó đã tác động lớn đến tốc độ phát triển của nông thôn tỉnh Kiên Giang những năm qua. Ngoài ra các nguồn vốn khác như Chương trình 134, 135, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nguồn tài trợ quốc tế, các tổ chức nhân đạo, từ thiện... cũng được các địa phương sử dụng có hiệu quả, góp phần vào thay đổi diện mạo nông thôn". Ðiện, đường, trường, trạm, nhà máy cấp nước sạch, chợ nông thôn... mọc lên khắp nơi. Các điểm bưu điện văn hóa xã, khu vui chơi giải trí được đầu tư xây dựng nhiều hơn. Người dân vùng nông thôn ở Kiên Giang hiện nay không chỉ có cuộc sống vật chất khấm khá hơn mà sự hưởng thụ về tinh thần cũng đủ đầy hơn. Hiện nay, nhiều xã trong tỉnh Kiên Giang, xe gắn máy đã chạy được khắp các ấp, xóm trong cả hai mùa mưa nắng; tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt từ 70 đến 96%; sử dụng nước sạch đạt từ 70 đến 90%; hộ có phương tiện nghe nhìn bình quân đạt hơn 80% có xã đạt đến 99%; hộ sử dụng điện thoại cũng đạt bình quân hơn 10 máy/100 dân; trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt bình quân từ 95 đến 99%.
Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26, Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành T.Ư Ðảng (khóa X), tỉnh Kiên Giang tiến hành xây dựng đề án phát triển toàn diện hệ thống hạ tầng nông nghiệp, nông thôn với sự phân kỳ đầu tư hợp lý, bảo đảm nguồn lực thực hiện cụ thể và có cơ chế điều hành chỉ huy hiệu quả; khẩn trương hình thành và triển khai đề án tổng thể nâng trình độ học vấn và dạy nghề cho lao động trẻ ở nông thôn. Bên cạnh đó cần đánh giá lại một cách toàn diện và chính xác hoạt động của các đoàn thể ở nông thôn thời gian qua để tập trung tháo gỡ những khiếm khuyết, tồn tại, củng cố hệ thống tổ chức, xây dựng nội dung, phương hướng hoạt động có hiệu quả.