Kiểm soát rủi ro an ninh vật lý

Gian hàng giới thiệu các giải pháp an ninh vật lý trong khuôn khổ Hội thảo “An ninh vật lý - Xu thế và Giải pháp” tổ chức cuối tháng 11/2025.
Gian hàng giới thiệu các giải pháp an ninh vật lý trong khuôn khổ Hội thảo “An ninh vật lý - Xu thế và Giải pháp” tổ chức cuối tháng 11/2025.

Trong cuộc sống hiện nay, an ninh vật lý ngày càng đóng vai trò quan trọng. Một hệ thống an ninh vật lý được tích hợp dữ liệu đa hệ thống và ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) , có khả năng tự động hóa quy trình phản ứng sẽ giúp ngăn ngừa, chủ động kiểm soát hiệu quả các mối đe dọa từ bên ngoài, bảo đảm hoạt động kinh tế-xã hội diễn ra an toàn.

Việc áp dụng một chiến lược an ninh vật lý hiệu quả đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa giải pháp công nghệ và đào tạo nhân lực. Một "hàng rào" an ninh vật lý hữu hiệu sẽ giúp các doanh nghiệp, tổ chức hay cơ sở hạ tầng có thể hoạt động hiệu quả, an toàn và bền vững trong môi trường đầy thách thức hiện nay.

Chuyển từ thụ động sang chủ động

An ninh vật lý là bảo vệ an ninh cho những vật, tài sản chúng ta có thể quan sát được, thấy được, cảm nhận được… là những biện pháp bảo vệ con người, công trình hạ tầng, tài sản hiện hữu. Đơn cử như cách đây 15-20 năm, tại Việt Nam đã bắt đầu sử dụng camera giám sát an ninh công cộng tại các nhà xưởng hay khu phố. Bên cạnh đó, trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ như hiện nay, làn sóng đổi mới công nghệ đang tạo ra lượng dữ liệu khổng lồ chưa từng có.

Theo ông Nguyễn Quang Đạt, Trưởng quản lý Công ty Seagate tại Việt Nam, nếu trong cả năm 2005, toàn thế giới chỉ tạo ra lượng dữ liệu tương đương 1 Zettabyte (ZB) thì năm 2020, lượng dữ liệu tạo ra đã là 7 ZB và dự báo, năm 2028 sẽ là khoảng 394 ZB. Nghĩa là, trong vòng hơn 20 năm, dung lượng dữ liệu toàn cầu sẽ tăng gần 400 lần, áp lực lớn lên hệ thống lưu trữ. Bởi, dữ liệu vẫn phải lưu trữ trên các hệ thống máy chủ hoặc đám mây (cloud), cho nên tài sản số quan trọng này cũng cần được bảo vệ an toàn vật lý.

“Về an ninh vật lý thì thế giới đã trải qua 3 giai đoạn phát triển”, Tổng Giám đốc MobiFone Global (thuộc Tổng công ty Viễn thông MobiFone) Vũ Kiêm Văn cho biết. Theo đó, giai đoạn đầu là “giám sát rời rạc”, khi các camera hay hệ thống quản lý tòa nhà BMS (Building Management System) được điều khiển và giám sát riêng biệt, rời rạc, không chia sẻ dữ liệu, năng lực kỹ thuật và cách vận hành hoàn toàn khác nhau.

Từ năm 2022, an ninh vật lý bước sang giai đoạn 2 khi tất cả các hệ thống an ninh bắt đầu được tích hợp tổng thể trên một nền tảng giám sát tập trung, giúp giảm chi phí nhân lực, vận hành, lưu trữ và bảo trì, đồng thời, nâng cao năng lực phòng thủ trước các tình huống mất an ninh.

Hiện tại, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, việc triển khai an ninh vật lý đã tiến thêm một bước mới, đó là ứng dụng phân tích dữ liệu bằng AI để dự đoán, xây dựng các kịch bản phòng thủ chủ động dựa trên dữ liệu thu thập được từ hệ thống internet vạn vật (IoT) hoặc từ cảm biến (sensor) của các thiết bị trong một hệ thống an ninh vật lý đa tầng.

Hiện tại, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, việc triển khai an ninh vật lý đã tiến thêm một bước mới, đó là ứng dụng phân tích dữ liệu bằng AI để dự đoán, xây dựng các kịch bản phòng thủ chủ động dựa trên dữ liệu thu thập được từ hệ thống internet vạn vật (IoT) hoặc từ cảm biến (sensor) của các thiết bị trong một hệ thống an ninh vật lý đa tầng. Như vậy, nếu trước đây các hệ thống an ninh vật lý là hoàn toàn bị động, khi có sự cố xảy ra mới bắt đầu triển khai giải pháp ứng phó nhằm giảm thiệt hại, thì nay đã được tự động hóa quy trình phản ứng, kích hoạt theo kịch bản định sẵn, giúp chủ động ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro, bảo vệ một cách toàn diện hạ tầng an ninh vật lý quan trọng của các cơ quan, tổ chức.

Nhu cầu ngày càng tăng

Rủi ro an ninh vật lý đang trở thành mối quan tâm hàng đầu trong bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng và các mạng lưới kết nối ngày càng phức tạp. Theo kết quả khảo sát của Grand View Research, tổng quy mô thị trường an ninh vật lý toàn cầu năm 2025 đạt khoảng hơn 158 tỷ USD và dự báo sẽ tăng lên gần 220 tỷ USD vào năm 2030.

Tại Việt Nam, số liệu của Tập đoàn IMARC cho thấy, quy mô thị trường an ninh vật lý năm 2024 là khoảng 500 triệu USD và sẽ tăng lên mức gần 2 tỷ USD vào năm 2033. Bên cạnh đó, trong những năm tới đây, nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Việt Nam sẽ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư nhiều cơ sở hạ tầng chiến lược như các sân bay, đường sắt tốc độ cao, đường cao tốc kết nối liên vùng, khu công nghiệp công nghệ cao… Từ đó, kéo theo nhu cầu xây dựng các hệ thống bảo vệ an ninh vật lý có khả năng tự động hóa hoàn chỉnh, đồng bộ, liên thông, tiết kiệm thời gian, công sức và bảo đảm độ chính xác gần như tuyệt đối.

Theo Thượng tá Nguyễn Đình Tuấn, nguyên Phó Tổng Giám đốc MobiFone, hệ thống an ninh vật lý tại Việt Nam nhiều năm qua phát triển nhanh, nhưng còn phân tán, thiếu chuẩn chung, thiếu tính liên thông và chưa theo kịp yêu cầu giám sát là phản ứng theo thời gian thực. Trong tình hình an ninh, trật tự ngày càng phức tạp, việc xây dựng các hệ thống giám sát đa lớp, phản ứng nhanh, tích hợp dữ liệu để bảo đảm tính chủ động trước rủi ro đã trở thành nhu cầu cấp thiết. Chính vì vậy, MobiFone xác định an ninh vật lý sẽ là một trong những trụ cột chiến lược trong hệ sinh thái “viễn thông-công nghệ-chuyển đổi số” mà Tổng công ty đang xây dựng.

Từ hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, các nền tảng số đến những công nghệ mới như AI (Trí tuệ nhân tạo), IoT, Cloud, Big Data (dữ liệu lớn), MobiFone hướng tới hình thành các giải pháp an ninh tích hợp, thông minh, sẵn sàng mở rộng theo quy mô quốc gia. Tuy nhiên, để hình thành được hệ sinh thái an ninh vật lý đồng bộ, phục vụ thiết thực các nhu cầu bảo vệ con người, tài sản và vận hành của đất nước, cùng với sự nỗ lực của Công ty MobiFone, cần có sự kết nối chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các đối tác công nghệ hàng đầu trên thế giới cùng cộng đồng chuyên gia.

Có thể bạn quan tâm