Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế quốc tế, quỹ hưu trí của Việt Nam hiện vẫn đang trong tình trạng “đóng ít - hưởng nhiều", khi tỷ lệ hưởng tối đa mà người tham gia hệ thống BHXH có thể nhận được lên tới 75%.
Đặc biệt, tính toán của các chuyên gia, với những quy định về đóng - hưởng BHXH như hiện nay ở Việt Nam, một người lao động (NLĐ) tham gia BHXH thì số tiền tích lũy được (đã bao gồm cả tiền lãi) chỉ đủ để chi trả lương hưu cho chính người đó từ 8 đến 10 năm. Như vậy, với kỳ vọng sống của những người sống sau độ tuổi 55 đối với nữ và 60 đối với nam hiện nay là khoảng 20 năm thì rõ ràng quyền lợi mà NLĐ đang được hưởng là rất lớn.
Phó Vụ trưởng BHXH (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) Trần Hải Nam cho biết: Bài toán cân đối đóng - hưởng trong chính sách BHXH của Việt Nam hiện nay vẫn đang được các tổ chức quốc tế khuyến nghị phải thay đổi. Thậm chí nhiều chuyên gia nước ngoài đề xuất Việt Nam cần nghiên cứu giảm tỷ lệ hưởng lương hưu xuống (mặt bằng tỷ lệ chung trên thế giới chỉ vào khoảng từ 45 đến 50%). Tuy nhiên, hiện nay chúng ta vẫn đang duy trì chính sách với tỷ lệ hưởng cao, có lợi cho NLĐ.
Nhìn vào tỷ lệ đóng - hưởng hiện nay, có thể thấy quyền lợi của NLĐ tham gia BHXH bắt buộc được đặt lên hàng đầu. Đối với người tham gia BHXH tự nguyện, họ phải đóng toàn bộ cả phần của chủ sử dụng lao động (SDLĐ) và NLĐ. Tuy nhiên, nhìn vào tỷ lệ đóng - hưởng, nếu như hiện nay người tham gia BHXH tự nguyện chỉ đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất 22%, trong khi tỷ lệ hưởng tối đa mà người tham gia có thể nhận được lên tới 75%, trong lúc tuổi thọ hiện nay đã tăng nhiều so với trước đây. Vậy rõ ràng, với tỷ lệ đóng và hưởng như vậy thì quyền lợi của NLĐ được hưởng sẽ có lợi hơn rất nhiều so với đóng.
Về thông tin lan truyền trên các trang mạng xã hội so sánh về mức đóng - hưởng BHXH trong 30 năm nếu gửi ngân hàng lấy lãi suất tiết kiệm sẽ có lợi hơn cho NLĐ, theo phân tích của ông Trần Hải Nam, phương pháp tính đó là chưa đầy đủ và không chính xác vì tác giả đưa ra cách tính toán chỉ dựa trên thông số một cách rất đơn giản. Đó là số tiền đóng, tỷ lệ đóng và tính toán trượt giá theo thời gian, mức hưởng. Đồng thời, bài toán đó chưa tính đến các yếu tố, như: khi tính trợ cấp bảo hiểm trong chính sách quy định rất rõ là tính toán tiền trợ cấp theo giá trị của đồng tiền, theo trượt giá thì toàn bộ số tiền đóng của NLĐ đã được tính vào điều chỉnh theo trượt giá.
Gần đây nhất, ngày 28-12-2016 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 42/2016/TT-BLĐTBXH quy định mức điều chỉnh tiền lương và thu nhập tháng đã đóng BHXH đối với người hưởng lương hưu trong năm 2017. Theo đó mức điều chỉnh cao nhất áp dụng đối với số tiền đóng trong khoảng thời gian trước năm 1995 là 4,4 lần. Như vậy, rõ ràng không thể lấy số tiền tuyệt đối đã đóng BHXH của 20 năm, 30 năm về trước ra để tính hưởng lương hưu, mà số tiền đó phải được điều chỉnh để bù đắp yếu tố lạm phát. Đơn cử như theo quy định tại Thông tư số 42 thì một người đóng một triệu đồng tiền BHXH ở năm 1994 thì đến năm 2017 khi về hưu số tiền này sẽ được điều chỉnh thành 4,4 triệu đồng khi tính mức lương hưu. Việc thông tin về cách tính lương hưu trên mạng xã hội lấy tỷ lệ 75% nhân với giá trị tuyệt đối của số tiền đã đóng mà không có giả định về tỷ lệ lạm phát và áp dụng hệ số điều chỉnh là không đúng với chính sách BHXH.
Bên cạnh đó, chính sách BHXH có quy định về việc điều chỉnh lương hưu trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với ngân sách Nhà nước và quỹ BHXH. Thực tế thời gian qua, mức lương hưu của người nghỉ hưu đã liên tục được nâng lên. Nếu tính cho giai đoạn từ năm 2003 đến 2016, Chính phủ đã 14 lần điều chỉnh lương hưu với mức tăng từ 7,4 đến 9,2 lần so mức lương hưu tại thời điểm năm 2002. Như vậy, việc tính toán nhưng không có giả định về tốc độ tăng trưởng kinh tế và chỉ số giá tiêu dùng để xác định mức điều chỉnh lương hưu sẽ không phản ánh đúng và đầy đủ quyền lợi mà người tham gia BHXH được thụ hưởng.
Ngoài ra, việc lấy tỷ lệ đóng góp 26% hay 30,5% để tính toán số tiền đóng vào quỹ làm cơ sở để so sánh với số tiền được nhận sau này là không hợp lý. Vì trong tổng tỷ lệ đóng góp nêu trên bao gồm cả 3% đóng vào quỹ ốm đau, thai sản; 1% đóng vào quỹ Tai nạn lao động - Bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN) và 4,5% đóng vào quỹ BHYT - là những quỹ ngắn hạn, có tính chất chia sẻ rủi ro cao giữa người khỏe mạnh với người ốm đau, bị TNLĐ-BNN. Trong những trường hợp NLĐ mắc bệnh cần chữa trị dài ngày, mắc các bệnh đòi hỏi chi phí điều trị kỹ thuật cao, bị TNLĐ hoặc mắc các bệnh với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động cao thì số tiền chi trả cho những rủi ro như vậy là vô cùng lớn. Như vậy, khi so sánh chỉ nên lấy tỷ lệ đóng góp vào quỹ hưu trí và tử tuất là 22%.
Đồng thời, ngoài quyền lợi về lương hưu, người về hưu còn được hưởng BHYT do quỹ BHXH chi mua thẻ BHYT (mức chi bằng 4,5% mức lương hưu); khi qua đời, người lo mai táng còn được hưởng trợ cấp mai táng bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm NLĐ chết, thân nhân còn được hưởng trợ cấp tuất một lần tối thiểu bằng ba tháng lương hưu hiện hưởng; trường hợp có thân nhân đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hằng tháng thì tối đa được bốn định suất trong đó con nhỏ được hưởng cho đến khi trưởng thành, cha mẹ già hưởng cho đến khi qua đời...
Phân tích về vấn đề này, Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Bùi Sỹ Lợi cũng khẳng định: NLĐ tham gia vào hệ thống BHXH sẽ được ổn định cuộc sống, trợ giúp khi gặp rủi ro như ốm đau, TNLĐ- BNN, thất nghiệp và sớm trở lại trạng thái sức khoẻ ban đầu cũng như sớm có việc làm... Do vậy, hoạt động BHXH vừa đòi hỏi trách nhiệm cao của từng NLĐ đối với bản thân mình và cũng thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia.
Bản chất của BHXH là "của để dành" và tạo cơ hội để NLĐ khi về hưu có thu nhập, bảo đảm được cuộc sống và giảm bớt gánh nặng an sinh xã hội. Đặc biệt trong hoàn cảnh hiện nay, khi tuổi thọ ngày càng tăng, tỷ lệ người cao tuổi ngày càng nhiều nếu không tự lo được cuộc sống cho mình từ tiền lương hưu thì gánh nặng đó sẽ “đổ” vào gia đình, xã hội. Theo quy định Luật BHXH, NLĐ tham gia BHXH sẽ đóng 8%, người SDLĐ đóng 14% vào quỹ hưu trí, tử tuất. Nhà nước bắt buộc người SDLĐ phải góp phần vào việc bảo đảm tương lai cho NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc khi không may gặp phải những biến cố bất lợi. Và đây chính là lợi ích của cả NLĐ và người SDLĐ (NLĐ gắn bó với doanh nghiệp, doanh nghiệp ổn định sản xuất, kinh doanh). Tuy nhiên, nếu không tham gia BHXH thì NLĐ sẽ không được lấy khoản phí đóng của doanh nghiệp để “đút vào túi” bởi số tiền 14% đó doanh nghiệp sẽ phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp trên tổng số tiền này, nếu đóng vào quỹ BHXH thì sẽ được tính vào chi phí doanh nghiệp. Còn NLĐ gửi tiền tiết kiệm, thoạt nhìn có thể sinh lời hơn tham gia BHXH, song khi đồng tiền mất giá thì sẽ không được Nhà nước bù đắp, nếu ngân hàng “vỡ nợ” sẽ không biết đòi đâu… Như vậy, rõ ràng chúng ta không đem câu chuyện so sánh giữa việc gửi tiết kiệm với tham gia vào chính sách BHXH - đồng chí Bùi Sỹ Lợi khẳng định.