Chưa bao giờ xuất hiện trước công chúng, nhưng lần ra mắt đầu tiên lại gây ấn tượng mạnh bởi một ca khúc thấm đượm chất dân gian: "Bà tôi đưa tôi ra đầu làng/ một mình bà đội cả trời nắng to/ Này là gió cuốn mây trôi đưa tôi về làng/ Này là bóng nắng liêu xiêu theo tôi đường làng/ Làng tôi quanh co, quanh co, quanh co".
Vẫn là giọng hát lạ của Ngọc Khuê với “Chuồn chuồn ớt”, “Bên bờ ao nhà mình”. Sau những khoảng thanh âm ấy là nỗi niềm day dứt.
Lần đầu, gửi bài hát đến đài truyền hình để tham dự vòng sơ khảo, Vĩnh Tiến tự tay đàn và thể hiện ca khúc của mình. Những câu thơ làm từ 10 tuổi xuất phát từ tình cảm thân thương quen thuộc với người bà ấy nay thăng hoa thành giai điệu nhạc.
Bài hát là một câu chuyện. Từ khi bà đưa cháu ra đầu làng để đến với thành thị, miền quê gắn liền với bóng dáng bà luôn trở đi trở về trong tâm trí cậu bé. Bà và làng là chuỗi ký ức trở đi trở lại trong nỗi nhớ: "Nhớ làng tôi, từng dòng mương xanh bay bay/ Nhớ bà tôi, một trăm năm rồi ngọn cỏ hoá mây trời/ Cười cười một chuỗi, trời thử bụng ta, có mùa thóc lép lợp trên mái nhà/ Có mùa hoa cà tự nhiên tím tái".
Nguyễn Vĩnh Tiến hơn một lần tự nhận, khi đứng trên sân khấu, một lãnh địa mới, anh không ngại. Lại chưa bao giờ có suy nghĩ phân biệt giữa chuyên nghiệp và nghiệp dư. Anh bảo: "Có thể “Bà tôi” không được bình chọn. Người ta chẳng biết tôi là ai giữa những Anh Quân, Vũ Quốc Việt, v.v... Nhưng điều đó không quan trọng".
Trên sân khấu ca nhạc hiện nay, những lời nhạc giàu chất thơ đang khan hiếm và có nguy cơ "mất dạng". Những ca từ đẹp Nguyễn Vĩnh Tiến mang đến tạo nên "hiệu ứng" mới với xúc cảm và hình ảnh trong sáng đến ngộ nghĩnh: "Bà ví lông gà như vường cải/ Ông ví lông gà như lời mối lái/ Ai ví tình yêu như trò nghịch dại". Rồi nỗi buồn của bà với dáng đứng liêu xiêu khi: "Bà lên kẻ chợ có buồn được đâu, ra về lúc lắc héo mòn một xâu" tạo thành nỗi ám ảnh sau mỗi khuông nhạc, ca từ.
Hơn chục năm trời, "nàng thơ" theo đuổi Nguyễn Vĩnh Tiến khiến đôi lúc bạn bè nhìn anh như kẻ lập dị. Tập thơ xuất bản năm 2003 “Những bình minh khác”, mấy trăm cuốn mang về nhà gần hết. Thơ in ra chỉ để cho và tặng, anh không ngại.
Rồi Vĩnh Tiến lại cặm cụi với những thử sức mới. Cách đây không lâu, anh tâm sự đầy vẻ hồ hởi: "Tập thơ sắp tới mình sẽ hóa thân vào những con vật để chúng cất lên tiếng nói. Đó là sự trăn trở của những con chào mào đầu trọc với những tiếng hót nghẹt thở, sự tái hiện của những chùm kỷ niệm màu vàng xanh, số phận của những sinh linh nhỏ xíu và cách của con người đối xử với chúng. Tôi đã gửi bản thảo cho Phan Huyền Thư và Nguyễn Hữu Hồng Minh đọc".
Chừng ấy hé lộ về dự định mới chưa đủ để người ta đoán định về những bất ngờ mà Nguyễn Vĩnh Tiến đem lại. Có thể là một chuỗi ca khúc mới, đậm chất dân gian, thấp thoáng điệu hát xoan hát ghẹo của vùng quê Phú Thọ, hay một chút thử sức với phê bình, ẩn chứa bên trong dáng vóc nhỏ bé của anh là đam mê sáng tạo bất tận.
Tiến hơn một lần tự nhận, kiến trúc cho anh tư duy về màu sắc, nhịp điệu và kết cấu thơ ca cho anh sự tưởng tượng, sự chính xác của cảm xúc biểu đạt bởi ngôn từ cho anh một tinh thần tự do. Cùng một lúc thử sức nhiều vai, một giám đốc công ty kiến trúc, một nhà thơ, một nhạc sĩ, suy cho cùng, sự "tham lam" ấy xuất phát từ chính những va đập quá nhạy cảm của tâm hồn anh với cuộc đời.