Khắc phục hậu quả chất độc da cam ở Việt Nam

Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, quân đội Mỹ đã sử dụng một lượng khổng lồ chất độc hóa học. Xét về mục đích, tính chất, phương thức, quy mô thì các chất độc hóa học do Mỹ sử dụng là vũ khí chiến tranh, đó là cuộc chiến tranh hóa học có quy mô lớn nhất, dài ngày nhất, hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử loài người.

Các đại biểu dự hội thảo đánh giá tác hại của chất độc da cam ở Việt Nam.
Các đại biểu dự hội thảo đánh giá tác hại của chất độc da cam ở Việt Nam.

Hậu quả thảm khốc nhất trong lịch sử

Theo kết quả các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài, từ năm 1961 đến năm 1971, quân đội Mỹ đã phun rải gần 80 triệu lít chất độc hóa học, gồm chất da cam, chất hồng, chất trắng, chất tím, chất xanh da trời..., 61% trong số đó là chất da cam, chứa 366 kg đi-ô-xin xuống 1/4 diện tích miền nam Việt Nam, với khoảng ba triệu ha; mật độ phun rải trung bình vượt gấp khoảng 17 lần mật độ cho phép sử dụng trong nông nghiệp của Hoa Kỳ, trong đó hầu hết diện tích bị phun rải hai lần, 11% bị phun rải mười lần. Các hóa chất độc đó đã tác động mạnh mẽ, lâu dài tới môi trường, các hệ sinh thái. Theo điều tra của Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Ủy ban 10-80) và một số nghiên cứu của nước ngoài, môi trường miền nam bị ô nhiễm nặng; các hệ sinh thái bị tàn phá, đảo lộn, hệ thống rừng ngập mặn và rừng đầu nguồn của 28 sông chính bị phá hủy nặng nề, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng giữ nước chống lụt; một số loài động vật, thực vật quý hiếm bị tuyệt chủng, các loài gặm nhấm và cỏ dại phát triển. Tại căn cứ trước kia quân đội Mỹ dùng làm kho chứa, pha trộn, tiêu hủy chất khai quang, nồng độ đi-ô-xin còn gấp hàng nghìn lần nồng độ cho phép.

Chất độc da cam tác động mạnh mẽ, lâu dài tới sức khỏe con người. Các kết quả nghiên cứu ở Việt Nam và thế giới cho thấy chất độc da cam/đi-ô-xin có khả năng gây tổn thương đa dạng và phức tạp trên tất cả các bộ phận của cơ thể, gây tổn thương da, gan, tuyến giáp, đái tháo đường; làm tổn thương hệ thống hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, nội tiết, thần kinh; gây đột biến gien và nhiễm sắc thể, từ đó gây nên các dị tật bẩm sinh, các tai biến sinh sản. Viện Hàn lâm khoa học quốc tế Mỹ (NAS) đã công bố danh mục 14 bệnh, Bộ Y tế Việt Nam công bố danh mục 17 bệnh tật, dị dạng, dị tật có liên quan phơi nhiễm chất độc hóa học/đi-ô-xin, trong đó có chín bệnh đặc biệt hiểm nghèo.

Đặc biệt, chất độc da cam có thể di truyền qua nhiều thế hệ. Ở Việt Nam, di chứng da cam đã truyền sang thế hệ thứ tư. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của các cấp hội, hiện cả nước có khoảng 300 nghìn nạn nhân là con, cháu và chắt của người bị nhiễm trực tiếp. Các kết quả nghiên cứu do Bộ Y tế Việt Nam chủ trì đã xác định có gần 200 nhóm bệnh tật, dị dạng, dị tật bẩm sinh do phơi nhiễm chất độc hóa học/đi-ô-xin, với các bệnh: liệt hoàn toàn hay một phần cơ thể, thoát vị não, tật không có tủy sống, teo vận động mạnh phổi... Theo thống kê của hệ thống hội các cấp trong cả nước hiện có 300 nghìn nạn nhân là con, cháu, chắt bị phơi nhiễm. Không chỉ người Việt Nam mà các lính Mỹ, Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân... từng tham chiến trong chiến tranh ở Việt Nam cũng mắc nhiều bệnh tật do phơi nhiễm chất độc da cam.

Nỗ lực của Việt Nam và sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế

Ngay khi còn chiến tranh, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo quân đội và hệ thống y tế có biện pháp chữa trị cho những người phơi nhiễm. Sau tháng 4-1975, Chính phủ đã thành lập Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Ủy ban 10-80) và Ban chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam (Ban chỉ đạo 33). Hai Ban này đã điều tra và đánh giá hậu quả của chất độc da cam/đi-ô-xin đối với môi trường và con người là rất nặng nề, đồng thời đề xuất các biện pháp khắc phục. Chính phủ cũng đã ban hành các kế hoạch hành động quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam qua các giai đoạn. Đã đầu tư nhiều công trình khảo sát, nghiên cứu khoa học, tiến hành một số dự án xử lý khu vực đất nhiễm đi-ô-xin, ngăn chặn, chống lan tỏa chất độc hóa học; đã phối hợp Hoa Kỳ tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng, với Quỹ môi trường toàn cầu quốc tế (GEF) xử lý đất ô nhiễm ở sân bay Phù Cát và một phần ở sân bay Biên Hòa. Tổ chức trồng lại rừng và phục hồi các hệ sinh thái trên toàn miền nam…

Nhà nước cũng đã ban hành và luôn bổ sung, hoàn thiện các chế độ, chính sách đối với nạn nhân chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, gồm chính sách với người hoạt động kháng chiến bị phơi nhiễm và chính sách với các đối tượng khác bị phơi nhiễm; huy động nhiều nguồn lực thực hiện các dự án hỗ trợ nạn nhân về sản xuất, y tế, giáo dục, phục hồi chức năng... Cuộc đấu tranh đòi công lý của nạn nhân, mặc dù rất khó khăn, nhưng đã đạt được một số kết quả bước đầu, được công luận trong nước và thế giới ủng hộ mạnh mẽ.

Vấn đề chất độc da cam và hậu quả của nó ở Việt Nam luôn thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Gần đây, nhiều cuộc hội thảo khoa học quốc tế được tổ chức tại TP Hồ Chí Minh (năm 1983); Thụy Điển (năm 2002) và tại Hà Nội (vào tháng 5-2014)... Riêng Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam đã chủ trì tổ chức hai hội thảo vào năm 2006 và năm 2011. Kết quả các công trình nghiên cứu và các cuộc hội thảo đã tạo cơ sở để xác lập các chương trình khắc phục hậu quả chất độc da cam đối với môi trường, sức khỏe con người và đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân chất độc da cam.

Có thể bạn quan tâm