Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các định hướng chính thức hiện nay đặt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu bình quân 6-8%/năm trong giai đoạn 2026-2030, gắn với hoàn thiện thể chế, phát triển chuỗi cung ứng bền vững, tài chính xanh, logistics, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, điều quan trọng nhất không phải là tăng thêm thật nhanh về sản lượng, mà là chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm xúc tiến thương mại nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho rằng, trước hết, phải tiếp tục chuyển mạnh từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang tư duy “kinh tế nông nghiệp gắn với tín hiệu thị trường”.
Mọi quyết sách phát triển ngành hàng cần bắt đầu từ nhu cầu tiêu dùng, xu hướng tiêu chuẩn, dự báo thị trường và cơ hội tham gia phân khúc giá trị cao. Sản xuất phải gắn với đơn hàng; vùng nguyên liệu phải gắn với chế biến; chế biến phải gắn với phân phối; và xúc tiến thương mại phải gắn với chiến lược thương hiệu dài hạn.
Theo ông Tiến, phải coi đa dạng hóa thị trường và đa dạng hóa rủi ro là yêu cầu chiến lược. Trong bối cảnh thế giới còn tiềm ẩn nhiều xung đột, cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn, biến động về logistics và khả năng xuất hiện các rào cản phi thuế quan mới, nếu phụ thuộc quá lớn vào một vài thị trường hoặc một vài kênh phân phối, rủi ro sẽ rất lớn. Phát triển thị trường giai đoạn tới phải hướng tới việc vừa giữ chắc các thị trường lớn, vừa mở rộng sang các thị trường tiềm năng, vừa nâng mức hiện diện trong hệ thống bán lẻ hiện đại, thương mại điện tử xuyên biên giới và các chuỗi phân phối có khả năng nâng giá trị thương hiệu.
Đồng thời, phải nâng tầm công tác xúc tiến thương mại nông nghiệp theo hướng chuyên nghiệp hơn, sâu hơn và hiện đại hơn. Xúc tiến thương mại trong giai đoạn mới không thể chỉ dừng ở tổ chức hội chợ, kết nối giao thương hay quảng bá hình ảnh theo vụ việc. Xúc tiến thương mại phải trở thành công cụ chiến lược để hỗ trợ mở thị trường, nắm bắt sớm thay đổi chính sách, phân tích xu hướng tiêu dùng, xây dựng thương hiệu và kết nối trực tiếp doanh nghiệp Việt Nam với các nhà mua hàng quốc tế.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình nâng cấp chuỗi giá trị, nhưng Nhà nước, địa phương, hiệp hội ngành hàng và hệ thống xúc tiến thương mại phải đóng vai trò kiến tạo. Cần hỗ trợ mạnh hơn cho doanh nghiệp trong xây dựng vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến sâu, kho lạnh, logistics, sở hữu trí tuệ, chỉ dẫn địa lý, chứng nhận xanh, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số. Chỉ khi doanh nghiệp Việt Nam có năng lực làm chủ tốt hơn chuỗi giá trị, thương hiệu nông sản Việt Nam mới có thể bước lên vị trí xứng đáng hơn trên thị trường quốc tế.
Cũng theo ông Tiến, phải xác định rằng xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của thương hiệu quốc gia. Khi thế giới nhắc đến nông sản Việt Nam, không chỉ là nhắc đến một quốc gia có sản lượng lớn, mà phải là một quốc gia có sản phẩm chất lượng, an toàn, minh bạch, có trách nhiệm với môi trường và có khả năng đáp ứng những chuẩn mực cao nhất của thương mại hiện đại. Đó chính là nền tảng để Việt Nam không chỉ tăng xuất khẩu, mà còn nâng tầm hình ảnh đất nước trong nền kinh tế toàn cầu đang chuyển dịch mạnh sang mô hình xanh và số.
Phát triển thị trường và thương hiệu nông sản Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu không còn là một lựa chọn mang tính khuyến nghị, mà đã trở thành một yêu cầu bắt buộc của giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là bài toán thương mại, mà còn là bài toán chiến lược quốc gia về mô hình tăng trưởng, năng lực thích ứng, năng lực cạnh tranh và bản lĩnh hội nhập.
Thành tựu xuất khẩu 70,09 tỷ USD năm 2025 là một mốc son đáng tự hào, nhưng không phải là giới hạn của nông nghiệp Việt Nam. Giới hạn cũ đang dần bị thay thế bằng một đòi hỏi mới cao hơn: phải bước ra thị trường thế giới với tư cách không chỉ là nước cung ứng hàng hóa, mà là quốc gia có thương hiệu, có chuẩn xanh, có năng lực số và có trách nhiệm trong chuỗi giá trị toàn cầu.