Cần nói rõ đây là Festival đầu tiên của các loại hình nghệ thuật này. Festival đúng nghĩa chứ không phải một cuộc triển lãm hoặc trưng bày, bởi chẳng có cuộc triển lãm hoặc trưng bày nào đã từng như vậy, giống như một sân chơi, một không gian rộng quãng mấy nghìn mét vuông và vài chục họa sĩ cùng lúc có mặt để thể hiện tác phẩm của mình.
Tuy nhiên, kích thước của sân chơi không quan trọng. Quan trọng là chưa bao giờ một cuộc chơi nghệ thuật đương đại tưng bừng như vậy lại được sự ủng hộ đầy thiện ý của các cơ quan hữu trách bao gồm Vụ Mỹ thuật và Nhiếp ảnh thuộc Bộ Văn hóa - Thông tin, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Ủy ban Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và các Quỹ phát triển văn hóa. Rõ ràng mỹ thuật đương đại đã qua được một cánh cổng hẹp để đến với công chúng, tinh thần sáng tạo của nó đã được đón nhận và khuyến khích.
Festival diễn ra ngay tại khuôn viên Trường đại học Mỹ thuật phố Yết Kiêu, nơi xưa nay thấm đẫm một không khí mỹ thuật chừng mực và học đường. Một tập hợp khá đông những nghệ sĩ trẻ, những người mơ làm những điều khác thường đã thoải mái công bố những tác phẩm của mình. So với mươi năm trước đây, sự dè dặt của người xem đối với nghệ thuật sắp đặt, nghệ thuật trình diễn và Video Art dường như đã giảm hẳn. Công chúng cảm thấy thú vị thay vì bất bình, như có lần đã thế một số năm về trước. Hơn nữa, cũng không có những tác phẩm gây bất bình, thái độ sáng tạo của các nghệ sĩ đương đại tại đây nói chung là "nhã nhặn".
Nhìn lại thời điểm mà nghệ thuật đương đại xuất hiện ở Việt Nam, khoảng giữa những năm 90, so với thế giới thì muộn đến hơn nửa thế kỷ, nhưng vẫn bị coi là những tác phẩm quá xa lạ, thậm chí có biểu hiện bế tắc hoặc rồ dại, thì cuộc tập hợp của các nghệ sĩ làm sắp đặt, trình diễn hay Video Art hôm nay cần chính thức được xem như một sự kiện của giới mỹ thuật.
Một công nhận thật sự về mặt thể chế để từ nay nghệ thuật đương đại toàn quyền song hành với các loại hình nghệ thuật truyền thống khác. Những ngày diễn ra Festival là những ngày lễ hội thật sự. Tất nhiên không phải tất cả, các loại hình nghệ thuật đương đại mới chỉ được đón nhận và khuyến khích ở một chừng mực nào đó, sẽ vẫn còn những ý kiến trái chiều nhau và vì sao lại chỉ ở một chừng mực nào đó thôi, câu hỏi này giờ đây phải được trả lời từ phía những nghệ sĩ trẻ chứ không phải chỉ từ các nhà quản lý.
Tác phẩm mỹ thuật đương đại có hấp dẫn công chúng không? Chắc chắn là có, nhưng chỉ ở một bộ phận không lớn lắm. Mỹ thuật đương đại là thuật ngữ chung chỉ một loại hình nghệ thuật thị giác thoát khỏi mọi giới hạn nguyên tắc chuyên môn, thường mang tính xã hội mạnh mẽ, lôi cuốn công chúng và đôi khi biến họ thành đồng tác giả. Khái niệm này đã trở nên khá phổ biến trong công chúng. Người xem khá đông ở Festival Mỹ thuật Trẻ, nhưng hầu hết vẫn chỉ người trong nghề với người trong nghề đến ngắm nghía tác phẩm của nhau, những niềm đam mê riêng lẻ này với những niềm đam mê riêng lẻ khác cùng đi tìm tiếng nói chung. Nghệ thuật đương đại vẫn luôn là thứ nghệ thuật hầu như không bán được tác phẩm, thậm chí không bán được vé vào xem, ở đâu cũng vậy trên cả thế giới.
Lần đầu tổ chức ở Hà Nội trong một quy mô lớn chưa có tiền lệ, khán giả quan tâm, ban tổ chức tuy vậy tỏ ra khá lúng túng, không có bất cứ một sự giúp đỡ nào dành cho khán giả để họ tiếp cận nghệ thuật đương đại một cách dễ dàng. Triển lãm cũng không được trưng bày một cách khoa học, các tác phẩm bày quá gần nhau, triệt tiêu không gian của nhau, trong khi nghệ thuật sắp đặt cần có một không gian đặc biệt, ba chiều, có bối cảnh, môi trường cụ thể để gắn kết người xem, do đó nếu người xem còn hờ hững thì không phải chỉ là vì công chúng xưa nay chỉ quen hội họa giá vẽ, mà nguyên nhân chính là do họ không cảm thấy bị cuốn hút thật sự. Triển lãm không có một chủ đề, chỉ là nơi tập hợp sáng tác, không phân chia các khu vực cụ thể cho thể loại chưa làm được điều mà các nghệ sĩ trẻ mong đợi là tham gia vào tác phẩm như một thành phần tất yếu, có thể thêm bớt, thể hiện mình trong không gian mở của tác phẩm.
Sự hậu thuẫn của các cơ quan hữu trách là cần thiết và đáng mừng, nhưng mỹ thuật đương đại (chính xác hơn nên gọi là nghệ thuật đương đại vì đó là nghệ thuật tổng hợp chứ không chỉ mỹ thuật), cần đến sự đồng thuận của nhiều phía, mà trước hết, từ nỗ lực của nghệ sĩ, những tư duy chín muồi để công bố tác phẩm của mình một cách hoàn hảo, dù chỉ tương đối, hơn là nệ vào những chủ đề dễ ăn như môi trường hay thiên nhiên bị hủy hoại và thể hiện chúng chưa đến nơi đến chốn.
Festival lần này không phải một tập hợp đầy đủ các nghệ sĩ có tên tuổi, đã có ba thế hệ họa sĩ tham gia vào nghệ thuật đương đại và cũng không chỉ của riêng các nghệ sĩ tuổi dưới 35. Những họa sĩ có tiếng đã từng làm nghệ thuật sắp đặt (Installation) như Ðặng Thị Khuê, Nguyễn Bảo Toàn... quá tuổi để tham gia, nhưng cũng không ít người ở tuổi xấp xỉ 50 và như vậy Festival Trẻ không có nghĩa là ít tuổi. Một số họa sĩ đặt tên tuổi của mình vào nghệ thuật đương đại và có quyền tự hào về điều đó như Ly Hoàng Ly, Ðinh Gia Lê, Lê Quý Tông, Ðinh Công Ðạt... hay một số tên tuổi mới như Phan Ðình Phúc, Nguyễn Mạnh Hùng, Nguyễn Thanh Hoa, Nguyễn Ngọc Lâm...
Có thể nói rằng về mặt đội ngũ, các nghệ sĩ làm nghệ thuật đương đại không thiếu tài năng và luôn luôn thừa nhiệt huyết. Cái mà họ cần bây giờ, khi đã được sự quan tâm của chính quyền, là những điều kiện chuyên môn không thể thiếu. Ðầu tiên, họ cần những curator chuyên nghiệp. Thuật ngữ curator xuất hiện ở Việt Nam hai năm trở lại đây nhưng đã bắt đầu trở nên quen thuộc, có thể hiểu đó là từ chỉ những người lựa chọn, tập hợp nghệ sĩ, là đầu mối để tổ chức các hoạt động nghệ thuật - cũng gần giống như đạo diễn của sân khấu hay điện ảnh. Trong xu thế hiện nay, với chủ trương xã hội hóa các hoạt động nghệ thuật, vai trò của các curator là rất cần thiết, song Việt Nam hiện vẫn rất thiếu những người như vậy. Các nghệ sĩ sáng tác nói chung và nghệ sĩ làm nghệ thuật đương đại nói riêng cũng rất cần được sự tài trợ về mặt vật chất, bên cạnh những giúp đỡ về mặt tinh thần, nếu họ muốn tổ chức được những cuộc trưng bày lớn, có tác động xã hội mang tính thẩm mỹ cao.
Nghệ thuật đương đại giờ đã song hành với nghệ thuật truyền thống. Làm thế nào để nó trở thành một trào lưu, hay một tiếng nói nghệ thuật mạnh mẽ, làm đẹp cuộc sống, làm giàu những giá trị tinh thần của con người. Ðiều đó trông mong vào các nghệ sĩ trẻ tâm huyết với đời, với nghề và những điều kiện cần có như đã nói ở trên để họ có thể sáng tạo được nhiều hơn.