Tháng 9 năm 1971, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đang vào thời điểm ác liệt, chàng thanh niên tuổi 19 Nguyễn Văn Quyến (thôn Hà Khê, xã Vân Hà, huyện Đông Anh (cũ), Hà Nội), đã viết một lá đơn có cả máu của mình để tình nguyện vào miền nam chiến đấu.
Trong lá đơn tình nguyện gửi Hội đồng quân sự Trường Công nhân kỹ thuật I năm đó, với lòng yêu nước sâu sắc, học viên trẻ này đã viết: “Tôi chỉ muốn rằng được nhập ngay vào hàng ngũ quân đội để được cầm súng chiến đấu và phục vụ chiến đấu”.
Đây cũng không phải là lá đơn tình nguyện đầu tiên vào chiến trường miền nam của Nguyễn Văn Quyến. Chàng thanh niên thuở ấy từng cảm thấy tiếc nuối vì “qua những lá đơn đợt trước như vậy mà tại sao tôi lại chưa được đi”.
Trong gia đình chưa có ai vào tham gia quân ngũ, vì thế “tôi rất muốn được vào hàng ngũ quân đội nhân dân để chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần xương máu vào trong công cuộc giải phóng dân tộc… Tôi rất vinh dự nếu được đi nhập ngũ ngay trong đợt này, mặc dù có phải chịu mọi khó khăn, vượt mọi gian khổ, tôi cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ”.
Tôi rất vinh dự nếu được đi nhập ngũ ngay trong đợt này, mặc dù có phải chịu mọi khó khăn, vượt mọi gian khổ, tôi cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.
55 năm sau, lá thư của ông Nguyễn Văn Quyến vẫn nằm lại ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia III (Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, Bộ Nội vụ), và khiến người xem cảm động bởi dòng chữ “Đơn xin tình nguyện” và chữ ký của người viết vẫn còn hoen những vệt máu mờ.
55 năm sau, lá thư của ông Nguyễn Văn Quyến vẫn nằm lại ở Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, với dòng chữ “Đơn xin tình nguyện” và chữ ký của người viết vẫn còn hoen những vệt máu mờ.
Lá thư quyết tâm ấy vẫn khiến người đọc nghẹn ngào khi nhớ về một thời kỳ kháng chiến gian khổ của đất nước, của một thế hệ cán bộ đã gửi lại tuổi thanh xuân để dấn thân vào chiến trường khói lửa.
Một lá đơn khác được viết vào tháng 1/1969 cũng khiến nhiều người rưng rưng.
Đó là lá đơn xin tình nguyện đi công tác B của cán bộ Phạm Văn Biên (thôn Long Tràng, xã Hoàng Diệu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Hưng cũ), viết khi 27 tuổi.
Sinh ra trong một gia đình thuần nông, dù người em trai đã vào nam chiến đấu, bản thân từng tốt nghiệp ngành trồng trọt (Trường đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội), nhưng đảng viên Phạm Văn Biên viết: “... Tôi thường suy nghĩ: Đồng bào miền nam bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ, hy sinh bảo vệ thành quả cách mạng, để tôi được ngồi yên học tập, rèn luyện, tu dưỡng về mọi mặt trưởng thành như ngày nay. Vậy bây giờ đã tốt nghiệp trường đại học, tôi xin tha thiết đề nghị cấp trên xét duyệt cho tôi được đi phục vụ công tác B. Tôi biết đi là có thể hy sinh và đầy khó khăn, gian khổ. Nhưng tôi nguyện: Suốt đời trung thành với Đảng, suốt đời vì nhân dân phục vụ; Luôn luôn lúc nào cũng tin tưởng, phấn khởi với khí thế chiến đấu và chiến thắng mọi khó khăn gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ”.
Cựu sinh viên của Trường đại học Nông nghiệp 1 “sẵn sàng chờ lệnh cấp trên gọi là có ngay. Một lần nữa, xin tha thiết đề nghị cấp trên xét duyệt cho tôi được vào chiến trường B phục vụ”.
Hai lá thư tình nguyện vào chiến trường ngày ấy chỉ là một trong số hàng trăm nghìn tư liệu thuộc về 72.000 hồ sơ, kỷ vật cán bộ đi B đang được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III. Cùng với mạch thời gian, đó là những kỷ vật, hồ sơ vô giá của một thế hệ đã gửi lại thời thanh xuân tiếp nối hành trình bảo vệ Tổ quốc.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trước yêu cầu cấp bách của cách mạng miền nam, hàng vạn cán bộ đi B đã âm thầm vượt Trường Sơn vào chiến trường công tác và chiến đấu.
Khác với lực lượng quân đội trực tiếp chiến đấu trên mặt trận, cán bộ đi B là lực lượng dân sự. Đó là hàng vạn cán bộ, đảng viên cùng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, chuyên gia và công nhân kỹ thuật thuộc mọi lĩnh vực đang công tác tại các cơ quan ở miền bắc. Trong số đó, có rất nhiều cán bộ, chiến sĩ, đồng bào miền nam đã tập kết ra bắc học tập, lao động và công tác sau Hiệp định Geneva năm 1954. Họ mang theo niềm tin son sắt vào sự nghiệp cách mạng, gác lại gia đình, công việc và tuổi thanh xuân để vào miền nam làm nhiệm vụ, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Trước khi lên đường, để bảo đảm yêu cầu tuyệt đối bí mật, các cán bộ đi B đã gửi lại toàn bộ hồ sơ cá nhân, giấy tờ tùy thân và kỷ vật tại Ủy ban Thống nhất của Chính phủ.
Bà Trần Việt Hoa, Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, nhấn mạnh, khối hồ sơ, kỷ vật của các cán bộ đi B là một khối hồ sơ đặc biệt trong kho lưu trữ của cơ quan này. Một điểm dễ nhầm lẫn là nhiều người nghĩ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III lưu trữ cả hồ sơ của cán bộ là quân nhân chuyên nghiệp, hoặc lực lượng vũ trang nhập ngũ chính thức rồi đi B. Trên thực tế, đơn vị này chỉ lưu trữ hồ sơ của các cán bộ dân sự đi B.
Cũng theo bà Trần Việt Hoa, trong khối hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, có rất nhiều bộ hồ sơ của cán bộ miền nam tập kết ra bắc. Mỗi bộ hồ sơ đó đều rất dày dặn thông tin, thể hiện rõ cả một quá trình từ học tập đến công tác của họ, và đặc biệt có rất nhiều kỷ vật kèm theo.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đang gìn giữ hơn 72.000 hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B thuộc 89 tỉnh, thành phố (theo địa giới hành chính các thời kỳ giai đoạn 1945-1975). Đây là một trong những khối tài liệu lưu trữ quốc gia có giá trị đặc biệt, không chỉ phục vụ nghiên cứu lịch sử mà còn là nguồn tư liệu gốc vô giá để xác minh, giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng.
Khối tài liệu đặc biệt này bao gồm những tư liệu, kỷ vật quý giá như: Hồ sơ cán bộ, đơn tình nguyện, thư từ, nhật ký, ảnh gia đình, thẻ Đảng, sổ Đoàn, huân chương, huy chương, giấy khen, bằng khen cùng nhiều giấy tờ và tài sản cá nhân khác. Mỗi trang giấy ố vàng, mỗi bức ảnh sờn góc không chỉ là chứng tích lịch sử của một thời kỳ khói lửa, mà còn lưu giữ vẹn nguyên ký ức, tình cảm, hoài bão và dấu ấn cuộc đời của những con người đã dâng hiến cả tuổi trẻ cho độc lập dân tộc.
Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đang gìn giữ hơn 72.000 hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B thuộc 89 tỉnh, thành phố (theo địa giới hành chính các thời kỳ giai đoạn 1945-1975).
Trải qua thăng trầm của lịch sử, khối hồ sơ, kỷ vật này hiện được bàn giao, bảo quản nghiêm ngặt tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
Ý thức được trách nhiệm chính trị và đạo lý đối với lịch sử, trong nhiều năm qua, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã xây dựng cơ sở dữ liệu, phần mềm tra cứu hồ sơ cán bộ đi B và đưa vào vận hành hệ thống tra cứu trực tuyến tại địa chỉ https://www.luutru.gov.vn/hosodiB/. Qua đó, tạo điều kiện để người dân, thân nhân cán bộ đi B và các cơ quan chức năng tra cứu, xác minh thông tin.
Đồng thời, Cục đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương rà soát, chuyển giao danh mục và bản sao hồ sơ cán bộ đi B phục vụ công tác xác minh thân nhân, giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng cũng như trao trả hồ sơ, kỷ vật.
Đối với kỷ vật gốc, do yêu cầu nghiêm ngặt phải bảo đảm xác định đúng chủ nhân hoặc thân nhân hợp pháp trước khi bàn giao, Trung tâm Lưu trữ quốc gia III đến nay đã trực tiếp trao trả kỷ vật gốc cho 65 trường hợp; đồng thời phối hợp trao trả vàng và kỷ vật cho 150 cán bộ đi B và thân nhân tại các hội nghị tri ân người có công toàn quốc và các hoạt động tri ân nhân Ngày Thương binh-Liệt sĩ hằng năm.
Đặc biệt, trong quá trình triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin hiện nay, theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã tích cực phối hợp với các cơ quan, địa phương khai thác, cung cấp hồ sơ, tài liệu lưu trữ phục vụ xác minh thông tin liệt sĩ, thân nhân người có công và kết nối, trao trả hồ sơ, kỷ vật. Đây cũng là một trong những nguồn tư liệu quan trọng góp phần hỗ trợ thực hiện hiệu quả công tác tri ân người có công với cách mạng.
Sau hơn nửa thế kỷ, hành trình đưa những hồ sơ, kỷ vật ấy trở về với chủ nhân và gia đình của họ vẫn còn nhiều trăn trở. Nhiều cán bộ đi B đã anh dũng hy sinh ở chiến trường, hoặc đã từ trần sau chiến tranh. Thông tin về thân nhân, nơi cư trú thay đổi qua nhiều thập kỷ; địa giới hành chính cũng có nhiều điều chỉnh, gây không ít khó khăn cho công tác xác minh.
Nhưng điều day dứt hơn cả là đến nay vẫn còn nhiều gia đình, nhiều thân nhân của các cán bộ đi B chưa hề biết rằng hồ sơ, kỷ vật của người thân mình vẫn đang được gìn giữ cẩn trọng tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, lặng lẽ chờ ngày được trở về.
Bà Trần Việt Hoa cũng cho biết, công tác trao trả hồ sơ, kỷ vật cho các cán bộ đi B và thân nhân của họ cũng gặp nhiều khó khăn. Trung tâm đã chuyển bản sao hồ sơ cho tất cả các tỉnh, thành phố và các địa phương cũng đã tiến hành trao trả tiếp cho các gia đình. Tuy nhiên, nhiều cán bộ đi B đã ngã xuống ở chiến trường, dẫn đến thông tin của họ sau đó không được cập nhật và xác minh.
Mặt khác, trước khi đi B, nhiều cán bộ đã trao lại hồ sơ cá nhân cho Ủy ban Thống nhất của Chính phủ. Sau ngày thống nhất đất nước, Ủy ban này đã giải tán nên khối hồ sơ này được chuyển đến Ban Tổ chức Trung ương, sau đó được chuyển cho cơ quan lưu trữ. Vì vậy, rất nhiều người không biết khối hồ sơ này đang được lưu giữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.
Năm nay, Bộ Nội vụ đã đề nghị các địa phương tiếp tục đẩy mạnh công tác rà soát và trao trả hồ sơ, kỷ vật này. Hiện 34 tỉnh, thành phố đã có báo cáo về việc tiếp tục trao trả đối với các trường hợp chưa nhận được bản sao hồ sơ, cũng như phối hợp với Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III để trao trả kỷ vật gốc.
"Hầu như các kỷ vật gốc hiện vẫn chưa được trao trả hết, và việc trao trả kỷ vật gốc đòi hỏi quy trình xác minh phải thận trọng hơn nhiều so với hồ sơ. Ngoài các loại giấy tờ, kỷ vật gốc còn có thể bao gồm cả vàng, sổ tiết kiệm, công trái... - vừa mang ý nghĩa tinh thần vừa mang giá trị về vật chất. Vì thế, quy trình xử lý phải hết sức cẩn trọng, bảo đảm kỷ vật được trả về đúng người", bà Hoa nói.
Bởi vậy, việc đẩy mạnh thông tin rộng rãi về khối hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B; giới thiệu các câu chuyện, tư liệu có giá trị lịch sử, nhân văn nhằm lan tỏa những giá trị tích cực cho cộng đồng, đặc biệt là trong dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ. Đồng thời, từ đó góp phần cung cấp, kết nối thông tin phục vụ công tác xác minh thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng và Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.
Mỗi thông tin được lan tỏa có thể giúp thêm một gia đình tìm lại ký ức của người thân sau nhiều thập kỷ. Mỗi hồ sơ, mỗi kỷ vật được trao trả không chỉ là sự trở về của một tài liệu lưu trữ, mà còn là sự trở về của ký ức, góp phần thực hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" và tri ân những người đã cống hiến, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.