Thay vì chú trọng quy mô diện tích, hiện tại nhiều nông hộ, trang trại và doanh nghiệp tại Lâm Đồng chuyển hướng sản xuất cà-phê Robusta chất lượng cao nhằm gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
Năm 2025, Cục Sở hữu trí tuệ cấp chỉ dẫn địa lý “Lâm Đồng” cho cả hai dòng cà-phê Robusta và Arabica. Đây không chỉ là sự bảo hộ về mặt pháp lý mà còn là công cụ để nâng cao giá trị sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và được xem là “hộ chiếu xanh” để cà-phê trên vùng đất cao nguyên đi xa hơn và phát triển bền vững.
Nâng chất hạt cà-phê từ gốc
Trên vùng cao nguyên Bảo Lâm, Bình Đông Farm đang là một trong những mô hình cho thấy sự chuyển biến rõ nét của việc nâng chất hạt cà-phê từ gốc; với triết lý muốn nâng giá trị hạt cà-phê, phải bắt đầu từ chính vườn trồng.
Từ một nông trại từng canh tác theo kiểu truyền thống, Bình Đông Farm chuyển hướng sang phát triển cà-phê Robusta chất lượng cao trên diện tích 110 ha với quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ từ vườn đến khâu sơ chế.
Chủ trang trại Nguyễn Bình Đông chia sẻ, ông đã gắn bó thời gian dài với cây cà-phê và đủ kinh nghiệm để tìm lối đi riêng, với dòng Robusta chất lượng cao, quy trình sản xuất hiện đại, khép kín.
Tại Bình Đông Farm, sau mỗi vụ thu hoạch, hàng trăm tấn vỏ cà-phê được tận dụng ủ thành phân hữu cơ vi sinh rồi đưa trở lại chăm bón cho cây; hệ thống máy bay không người lái được dùng để phun dinh dưỡng, hệ thống cảm biến theo dõi độ ẩm, nhiệt độ, pH và một số chỉ số dinh dưỡng; quy trình theo dõi sâu bệnh, bón phân và sử dụng thuốc được kiểm soát.
Nhờ quy trình kiểm soát nghiêm ngặt, từ mức thu hoạch khoảng 3 tấn nhân khô/ha, năng suất bình quân của trang trại hiện tăng lên mức 5 tấn/ha, chất lượng luôn đáp ứng yêu cầu thị trường.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lâm Đồng Vũ Đình Cường đánh giá: “Đây là hướng sản xuất bền vững mà địa phương đang khuyến khích”. Ông Đình Cường cho rằng, từ khâu chăm bón đến thu hoạch, tuyển lựa và sơ chế đều được thực hiện bài bản, khi hạt cà-phê được kiểm soát ngay từ vườn, khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường sẽ tốt hơn.
Trước các tiêu chuẩn về sản xuất xanh của ngành cà-phê thế giới, người sản xuất tại Lâm Đồng đang chuyển mạnh sang hướng phát triển bền vững, chất lượng cao và gia tăng giá trị. Tại Bảo Lộc, bà Đoàn Thị Cậy đã ba năm tham gia chương trình sản xuất cà-phê đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu châu Âu của Golden Coffee.
Với vườn cà-phê 40 ha, điều bà Cậy quan tâm đầu tiên không phải là giá, mà là những tiêu chuẩn khắt khe về kỹ thuật. Bà cho biết: “Qua hợp tác sản xuất, chúng tôi được tiếp cận các kỹ thuật canh tác mới, cùng các yếu tố cần tuân thủ để có hạt cà-phê chất lượng cao; qua đó, giá trị sản phẩm được nâng lên”.
Những mô hình nêu trên là điển hình cho câu chuyện nâng chất hạt cà-phê từ gốc, bảo đảm tiêu chuẩn từ cây giống đến kỹ thuật canh tác, thu hoạch và yếu tố truy xuất nguồn gốc. Đó cũng là thay đổi cần thiết trong tư duy sản xuất, khi cà-phê Việt Nam đang bước vào cuộc cạnh tranh chất lượng và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường.
Theo Tiến sĩ nông học Phạm S, muốn cà-phê Robusta Việt Nam “đi” xa hơn phải bắt đầu từ vườn cây, bằng dữ liệu và công nghệ chứ không thể chỉ bằng kinh nghiệm.
Điều kiện để nông sản tiếp cận thị trường giá trị cao
Lâm Đồng hiện có hơn 329,9 nghìn ha cà-phê, sản lượng niên vụ này dự tính vượt 1 triệu tấn, cao nhất đến thời điểm hiện nay. Năm 2025, xuất khẩu cà-phê nhân của tỉnh đạt 630 triệu USD; 8 tháng năm 2026 đạt hơn 551,9 triệu USD, tăng 37,1% so với cùng kỳ năm 2025; trong đó, cà-phê Robusta chiếm phần lớn sản lượng xuất khẩu.
Tiến sĩ Phạm S cho rằng: “Quy mô sản xuất lớn tiếp tục khẳng định vị thế của cà-phê Lâm Đồng, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu phải thay đổi phương thức canh tác. Các tiêu chuẩn về sản xuất xanh, truy xuất nguồn gốc, trách nhiệm xã hội và minh bạch dữ liệu ngày càng trở thành điều kiện để nông sản tiếp cận những thị trường có giá trị cao”.
Hiện tại, các quy định mới của Liên minh châu Âu, trong đó có quy định chống mất rừng (EUDR), đang tác động mạnh đến chuỗi cung ứng cà-phê. Cùng với việc chứng minh nguồn gốc sản phẩm, doanh nghiệp và nông dân còn phải đáp ứng các yêu cầu về môi trường và sản xuất có trách nhiệm; nghĩa là cà-phê Lâm Đồng phải hướng đến tiêu chuẩn ESG, gồm các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp để sẵn sàng bước vào “luật chơi” của thị trường quốc tế.
Chi cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng Hà Ngọc Chiến cho rằng, để ESG đi vào thực chất thì phải bắt đầu từ vườn cà-phê, mỗi nông hộ, doanh nghiệp, hợp tác xã thực hành tốt thì cả chuỗi cà-phê mới có thể phát triển bền vững.
Theo ông Chiến, cùng với đó cần một chuỗi liên kết đủ mạnh. Trong đó, cơ quan quản lý định hướng, hỗ trợ; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường; hợp tác xã tổ chức lại sản xuất; còn nông dân là chủ thể trực tiếp thực hành tại vùng trồng.
Điểm khác biệt của Lâm Đồng nằm ở hệ sinh thái giống cà-phê đa dạng hiếm có, từ Robusta, Arabica đến Catimor, Bourbon, Cherry, đây là nền tảng để địa phương khẳng định vùng nguyên liệu và tiến sâu vào phân khúc cà-phê đặc sản có giá trị cao nhất trong chuỗi cà-phê toàn cầu.
Phó Chủ tịch Hiệp hội cà-phê - ca-cao Việt Nam Thái Như Hiệp cho rằng, tại Việt Nam, nhất là khu vực Tây Nguyên không thiếu những lô cà-phê tốt. Điểm nghẽn nằm ở khả năng tổ chức sự khác biệt về chất lượng thành những dòng nguyên liệu có giá trị thương mại rõ ràng.
Theo ông, cần chuyển sang thu mua theo chất lượng, tổ chức vùng nguyên liệu theo mục tiêu sử dụng và xây dựng hệ thống phân hạng nhân xanh bằng những chỉ tiêu có thể đo đếm. “Chất lượng không thể chỉ được ghi nhận bằng lời khen mà phải trở thành tín hiệu kinh tế”, ông Hiệp nhấn mạnh.
Lâm Đồng đã khẳng định vị thế về quy mô vùng nguyên liệu và sản lượng cà-phê. Tuy nhiên, để giúp lợi thế ấy trở thành giá trị, hạt cà-phê cần được phân loại rõ ràng, được sản xuất theo những tiêu chuẩn cụ thể và quan trọng nhất là người sản xuất phải được hưởng lợi từ phần giá trị gia tăng do chính mình tạo ra.
Tiến sĩ Phạm S cho rằng, công nghệ sẽ giúp người trồng chuyển từ sản xuất dựa chủ yếu vào kinh nghiệm sang quản trị bằng dữ liệu. Hệ thống tưới nhỏ giọt kết hợp cảm biến IoT có thể theo dõi độ ẩm, thời tiết và nhu cầu của cây; blockchain có thể trở thành “nhật ký điện tử” ghi lại quá trình sản xuất; còn AI hỗ trợ phân tích dữ liệu để dự báo sâu bệnh, hạn hán và tối ưu tưới, bón phân...