Tuy nhiên, cần có sự nỗ lực vươn lên trong quá trình sắp xếp, đổi mới quản lý doanh nghiệp, nhằm tháo gỡ một số vướng mắc, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Kết quả bước đầu
Theo Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp từ năm 2001 đến hết năm 2005, cả nước đã sắp xếp lại 3.349 doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) trong tổng số 5.655 DNNN với các hình thức thích hợp, trong đó cổ phần hóa 2.188, giải thể 252, sáp nhập, hợp nhất 416, giải thể phá sản 184, chuyển thành công ty TNHH một thành viên 124, hình thức khác là 182 đơn vị.
Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều giải pháp trong đầu tư và trợ giúp để phát triển các tổng công ty (TCT) nhà nước trong các lĩnh vực mà Nhà nước cần chi phối như: dầu khí, điện lực, than, công nghiệp tàu thủy, bưu chính - viễn thông... Ðồng thời, cũng có các giải pháp để giảm độc quyền doanh nghiệp ở một số TCT. Ðó là cho phép các TCT khác hoạt động trong lĩnh vực sản xuất điện, cung cấp dịch vụ viễn thông. Ðã hình thành thêm 13 TCT nhà nước trên cơ sở tổ chức lại DNNN; trong đó, thí điểm chuyển thành tập đoàn kinh tế (Than - Khoáng sản và Dệt - May); hai TCT thành lập công ty mẹ - công ty con; một TCT chuyển sang TCT cổ phần do Nhà nước giữ cổ phần chi phối (Thương mại và Xây dựng); hai TCT đang làm thủ tục chuyển sang TCT cổ phần (VINACONEX, Ðiện tử - tin học). Cơ chế đối với HÐQT cũng được sửa đổi để thể hiện chức năng là đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại doanh nghiệp.
Năm qua, có những doanh nghiệp quy mô vừa và lớn thực hiện cổ phần hóa như: Công ty khoan và dịch vụ dầu khí, các nhà máy điện Sông Hinh - Vĩnh Sơn, Thác Bà, Phả Lại; các công ty giấy Tân Mai, Vận tải xăng dầu đường thủy 1, Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí... Trong tổng số gần 2.900 DNNN và bộ phận doanh nghiệp cổ phần hóa, phần vốn Nhà nước là 33.863 tỷ đồng (riêng năm 2005 là 13.696 tỷ đồng) bằng 12% tổng vốn Nhà nước đầu tư ở các DN (gần 280.000 tỷ đồng). Tỷ lệ này không cao, do phần lớn số DNNN cổ phần hóa quy mô còn nhỏ, mặt khác thời gian vừa qua vốn Nhà nước trong lĩnh vực dầu khí, điện lực tăng thêm rất nhiều.
Việc bước đầu CPH một số DN quy mô lớn, Nhà nước giữ cổ phần chi phối đã thu hút vốn từ xã hội nhiều hơn, nhất là từ các nhà đầu tư chiến lược, tạo điều kiện đổi mới công nghệ, thay đổi phương thức tổ chức quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động. Ðồng thời, cũng làm sôi động lên hoạt động của thị trường chứng khoán. Cụ thể như cổ phiếu Vinamilk ba lần đấu giá đều được đẩy lên so với giá ban đầu từ 1,5 đến ba lần. Số nhà đầu tư đăng ký mua gấp năm lần quy định. Nhà nước không chỉ bảo toàn và phát triển nguồn vốn sở hữu, còn thu thêm gần 3.000 tỷ đồng qua đấu giá.
Năm 2005, đã có thêm tám công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán với vốn là 508 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp niêm yết lên 34 (trong đó 29 DNNN CPH) có 57 DN với tổng vốn điều lệ là 11.028 tỷ đồng thực hiện bán đấu giá cổ phần trên thị trường chứng khoán. Trong tổng số 313.280.654 cổ phiếu chào bán, đã bán 85,84% và thu về 4.125,7 tỷ đồng, trong đó 49/57 cổ phiếu DN đạt mức giá đấu bình quân cao hơn giá khởi điểm. Ngoài ra, có chín công ty đăng ký giao dịch tại trung tâm chứng khoán Hà Nội với số vốn là 1.500 tỷ đồng. Tổng số DN niêm yết, giao dịch và bán cổ phần trên thị trường chứng khoán là 100 DN. Cùng với việc CPH, nhiều DNNN đã phát hành trái phiếu tăng vốn hoạt động như Ngân hàng Ngoại thương (13.748.365 trái phiếu).
Ðến nay, cả nước sắp xếp 60% tổng số DNNN, nhưng vẫn bảo đảm ổn định xã hội. Một phần do triển khai sắp xếp, cổ phần hóa từng bước vững chắc, có chính sách cụ thể với lao động dôi dư. Người lao động dôi dư được vay vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm để tự tạo việc làm. Quỹ hỗ trợ lao động dôi dư đã chi 4.415 tỷ đồng cho 2.677 DN để giải quyết chế độ cho 141.643 lao động dôi dư. Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần đã làm cho người dân, trong đó có số lao động dư dôi từ khu vực Nhà nước yên tâm đầu tư vào sản xuất, kinh doanh, góp phần ổn định xã hội và tăng trưởng nền kinh tế.
Lực lượng chủ công
Có thể nói, năm năm gần đây, do biến động giá xăng dầu, vật tư nguyên liệu nhập khẩu đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN trong nước, khiến cho giá nhiều mặt hàng tăng cao, nhưng với sự chỉ đạo của Chính phủ, các DNNN đã cố gắng tiết kiệm điện, vật tư từ nhiên liệu, giảm giá thành sản phẩm góp phần quan trọng kiềm giá leo thang, giữ ổn định thị trường xã hội. DNNN tiếp tục giữ vững vai trò nòng cốt trong nền kinh tế, đóng góp 40% GDP cả nước với tổng doanh thu đạt 680.000 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2004. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn bình quân 16%, tăng 3% so với năm 2004. Số DN có lãi chiếm 83%, số DN hòa vốn 7% và số DN thua lỗ là 10%. Số DN kinh doanh có lãi chủ yếu tập trung ở các TCT nhà nước. Số DN kinh doanh kém hiệu quả có lũy kế lớn chủ yếu thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xây dựng công trình giao thông, giấy. Trong số 101 TCT nhà nước có 20 TCT sản xuất, kinh doanh hiệu quả thấp, số TCT còn lại hoạt động hiệu quả hơn so với năm 2004. Công tác bảo toàn vốn đã có chuyển biến tốt và có sự tăng trưởng đáng kể. Một số công ty có lỗ lũy kế lớn nhưng năm 2004 và năm 2005 đã bắt đầu có lãi hoặc giảm lỗ. Tình hình tài chính tuy còn rất khó khăn nhưng đã có dấu hiệu bước đầu cải thiện.
Bên cạnh những kết quả nêu trên vẫn còn một số hạn chế như DNNN tuy đã được sắp xếp lại nhưng quy mô vẫn chưa lớn, nhiều DNNN hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực mà Nhà nước không cần chi phối, 10% số DN làm ăn thua lỗ. Một số vẫn trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Một số TCT chưa phát huy được vai trò nòng cốt, chi phối trong ngành, lĩnh vực hoạt động. Không ít HÐQT của TCT nhà nước chưa thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại DN. Một số nơi còn để xảy ra các vụ việc tiêu cực, tham nhũng làm ảnh hưởng chung đến DNNN.
Cổ phần hóa DNNN tuy đạt nhiều kết quả tích cực, nhưng so với yêu cầu đổi mới vẫn còn chậm. Việc thu hút các cổ đông ngoài DN còn hạn chế. Việc Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn trong vốn điều lệ ở nhiều DN (Nhà nước giữ 50% vốn điều lệ ở 38% số DNNN CPH) đã làm hạn chế sự đổi mới trong quản trị công ty, phương pháp quản lý, lề lối làm việc, tư duy quản lý...
Một số bộ, ngành địa phương, TCT Nhà nước chưa quán triệt sâu sắc và chưa nghiêm chỉnh chấp hành Nghị quyết T.Ư 3, T.Ư9 của Ðảng. Thiếu chương trình, kế hoạch cụ thể, chưa kịp thời tháo gỡ vướng mắc cho DN sau CPH cũng làm ảnh hưởng tới việc đẩy mạnh CPH DNNN. Mặt khác, trên thực tế, lãnh đạo không ít DN do dự, chần chừ chưa muốn CPH.
Những giải pháp mới
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt phương án sắp xếp DNNN của các bộ, ngành, tỉnh, thành phố, các TCT 91. Theo phương án đã phê duyệt, dự kiến đến cuối năm 2006, cả nước còn khoảng 1.800 DN do Nhà nước giữ 100% vốn, 900 DN đã CPH nhưng Nhà nước không giữ cổ phần chi phối và có khoảng 500DN cổ phần mới thành lập có đầu tư vốn của Nhà nước (mà phần lớn là Nhà nước giữ cổ phần chi phối), có tám tập đoàn và 93 TCT nhà nước. Ðể thực hiện phương án nêu trên các bộ, ban, ngành, cần đẩy mạnh việc sắp xếp và đổi mới DNNN một cách vững chắc theo hướng hình thành loại hình DNNN kinh doanh đa ngành có nhiều chủ sở hữu (chủ yếu là công ty cổ phần) để nâng cao hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh nhằm làm tốt vai trò nòng cốt trong những ngành và lĩnh vực then chốt, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ðồng thời, với việc thu hẹp và tiến tới không còn chức năng đại diện chủ sở hữu của các bộ, UBND các tỉnh, thành phố đối với DNNN. Chính phủ sẽ sớm phê duyệt chiến lược phát triển của các TCT nhà nước giai đoạn 2006-2010. Tăng cường đầu tư có trọng điểm vào các lĩnh vực Nhà nước cần chi phối. Tập trung chỉ đạo và xây dựng cơ chế để các tập đoàn kinh tế thí điểm hoạt động có hiệu quả. Chuyển các DN mà Nhà nước giữ 100% vốn sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.
Tiếp tục thí điểm CPH các TCT nhà nước một cách thận trọng. Kiên quyết thực hiện phương thức thị trường trong việc CPH DNNN. Nhà nước giữ cổ phần chi phối đối với các TCT, công ty CP hoạt động trong những ngành, lĩnh vực bảo đảm điều tiết vĩ mô và những cân đối lớn của nền kinh tế, chỉ giữ 100% vốn ở các DN hoạt động bảo đảm an ninh, quốc phòng và sản xuất, cung ứng dịch vụ công ích thiết yếu mà chưa CPH được.
Hoàn thiện cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả DNNN, góp phần sớm phát hiện những khiếm khuyết trong quản lý, điều hành của DN để kịp thời điều chỉnh, đồng thời giúp chủ sở hữu thực hiện được chức năng của mình mà không cần trực tiếp can thiệp vào hoạt động của DNNN.
Thực hiện cơ chế Nhà nước đầu tư vốn cho DN thông qua công ty đầu tư tài chính nhà nước. Các DN huy động vốn trên thị trường để phát triển kinh doanh. Niêm yết các DN đã CPH có đủ điều kiện trên thị trường chứng khoán, đẩy mạnh việc bán CP, đăng ký giao dịch tại các TT giao dịch chứng khoán. Tiếp tục thực hiện sắp xếp lại các nông, lâm trường theo đúng Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chương trình kế hoạch hành động của Chính phủ.
Trước mắt, các bộ, ngành chức năng, UBND các tỉnh, thành phố cần đề cao ý thức chấp hành Nghị quyết của Ðảng, pháp luật kỷ cương hành chính của Nhà nước. Thực hiện nghiêm túc các quy định, chương trình, kế hoạch của Chính phủ về CPH DNNN. Thúc đẩy đổi mới quản trị công ty CP theo quy định của pháp luật, nâng cao vai trò của cổ đông Nhà nước giữ CP chi phối bằng cách Nhà nước đề cử người ra ứng cử chức Chủ tịch HÐQT và thực hiện việc HÐQT tuyển chọn ký hợp đồng thuê giám đốc giỏi để điều hành DN. Xây dựng chính sách phù hợp để hỗ trợ DN nâng cao khả năng cạnh tranh sau CPH. Lựa chọn phương án đầu tư mới theo hướng những sản phẩm, dịch vụ có lợi thế so sánh, có sức cạnh tranh, phát triển các ngành có hàm lượng trí tuệ và công nghệ cao ở những nơi có điều kiện.
Thực hiện tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ với số lượng, cơ cấu và đổi mới cơ chế vận hành như đã nêu trên, DNNN sẽ hoạt động có hiệu quả và phát huy tốt hơn vai trò nòng cốt trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.