Gần như cùng một lúc, cả đất nước và nhân dân Việt Nam đón tin vui này với tất cả niềm tự hào và hồ hởi. Nhưng không chỉ có thế. 65 năm qua, từ ngày Cách mạng Tháng Tám thành công trong cả nước, tiếp đến là hai cuộc kháng chiến trường kỳ, đã có những thế hệ các nhà toán học Việt Nam âm thầm lặng lẽ hiến dâng tất cả tài năng và nhiệt huyết của mình để phát triển ngành toán học Việt Nam, để đưa toán học phục vụ công cuộc kháng chiến và kiến quốc, đã góp phần quan trọng giải những bài toán mang lại chiến thắng trong chiến tranh và mở rộng tầm nhìn, sức tư duy, khả năng tiếp cận và chinh phục những kiến thức khoa học tiên tiến của thế giới trong thời bình cho nhiều thế hệ những nhà toán học và những người làm khoa học Việt Nam.
Có thể nói, người thầy và môi trường trực tiếp đưa Ngô Bảo Châu tới giải Fields hôm nay là người Pháp và trường đại học Pháp, nhưng những thế hệ người thầy đã lặng lẽ làm những tấm ván cầu đầy hy sinh cho những tài năng trẻ như Ngô Bảo Châu có thể mạnh mẽ bước lên chính là những người thầy Việt Nam. Từ những “tượng đài toán học” như Lê Văn Thiêm, Tạ Quang Bửu, Hoàng Tụy… tới những người thầy dạy toán cho Ngô Bảo Châu ở các lớp chuyên toán bậc phổ thông, tất cả họ đã tình nguyện nâng Ngô Bảo Châu trên vai mình, truyền những cảm hứng tận nguồn những khát khao cháy bỏng cho Ngô Bảo Châu chinh phục những đỉnh cao toán học, giải những bài toán mà có thể cả thế giới chưa giải được trong một thời gian dài. Những “bí quyết chân truyền” ấy trong toán học luôn được trao cho những “truyền nhân” một cách âm thầm và bí mật. Toán học không phải là sàn diễn, nhà toán học không phải là “người của công chúng” hay những “ngôi sao”. Họ làm việc trong lặng lẽ, phát kiến và cả thất bại trong lặng lẽ.
Vì vậy, “hiệu ứng Ngô Bảo Châu” không phải là hiệu ứng của một ngôi sao để công chúng đơn thuần ngưỡng mộ, mà là “hiệu ứng thức tỉnh và tự tin” để mỗi người chúng ta, dù ở trong hay ở ngoài toán học, trước mỗi bài toán khó của cuộc sống đặt ra cho mình, lại tự hỏi: “Ta có thể giải được không?”. Và học tập tinh thần quyết liệt đi tới đích của Ngô Bảo Châu, mỗi người lại tự trả lời: “Ta phải giải được! Ta quyết giải được!”.
Tôi còn nhớ một đoạn trong bài viết mang tính tự bạch của Ngô Bảo Châu, đại ý: Mỗi khoảnh khắc, mỗi hình ảnh của mình trong cuộc đời là mỗi mảnh ghép bé nhỏ. Nhưng mỗi mảnh ghép ấy đều có hệ quy chiếu riêng của nó. Làm sao để “dán” chúng lại, “ghép” chúng lại để có thể “đọc” chúng được, đó là công việc của nhà toán học.
Người ta hay nói, giữa toán học và thơ, giữa toán học và âm nhạc có sự tương đồng, phải chăng là ở đó? Một giai điệu âm nhạc có thể “từ trên trời” đáp xuống khuôn nhạc của nhạc sĩ, cũng như một lời giải có thể hiện ra từ giấc mơ, như một câu thơ hay một bài thơ. Phải biết hiến dâng mình cho mục đích, lý tưởng, ta sẽ nhận được những gì ta khát khao. Có lẽ, “hiệu ứng Ngô Bảo Châu” là thế chăng?