Hậu phương, hậu cần, một nhân tố quyết định thắng lợi

ND - Thắng lợi oanh liệt của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đỉnh cao là chiến dịch Ðiện Biên Phủ lịch sử, đã khẳng định vai trò to lớn của hậu phương và công tác bảo đảm hậu cần của quân dân ta.

55 năm qua đã có hàng trăm cuốn sách của các tướng lĩnh, chính khách, ký giả Pháp, Mỹ và một số nước khác viết về Ðiện Biên Phủ. Hầu hết (Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam) các công trình viết về Ðiện Biên Phủ của người nước ngoài đều khẳng định: Trước khi diễn ra trận Ðiện Biên Phủ, đối với nước Pháp, cuộc chiến tranh ở Ðông Dương đã ngày càng trở thành một gánh nặng quá sức chịu đựng. Chi phí chiến tranh hằng năm tăng một cách khủng khiếp; 3 tỷ phrăng năm 1945, 27 tỷ phrăng năm 1946, 53 tỷ phrăng năm 1947, 89 tỷ phrăng năm 1948, 130 tỷ phrăng năm 1949, 201 tỷ phrăng năm 1950, 308 tỷ phrăng năm 1951, 535 tỷ phrăng năm 1952(1). Hậu phương nước Pháp ngày càng rạn nứt, rối ren, quân đội viễn chinh tiến lui đều khó. Trong tình thế đó, lối thoát của Pháp để ra khỏi bế tắc là xin viện trợ Mỹ. "Từ tháng 6 năm 1950 (khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ) đến năm 1953, Mỹ đã cung cấp 400 nghìn tấn vũ khí, quân trang, quân dụng cho Pháp với trị giá khoảng bốn tỷ USD trong tổng số 7,5 tỷ USD mà Pháp chi tiêu trong toàn bộ cuộc chiến tranh Ðông Dương. Năm 1954 viện trợ Mỹ chiếm tới 78% chi phí chiến tranh của Pháp"(2). Tuy nhiên, viện trợ ngày càng tăng của Mỹ "đã chẳng thể nào thay đổi được kết quả cuối cùng của cuộc chiến"(3), không những thế còn khiến cho nội bộ chính quyền Pháp ngày càng mâu thuẫn, hậu phương càng mất ổn định, nước Pháp càng bị lệ thuộc vào Mỹ.

Các cuốn sách viết về Ðiện Biên Phủ của các tác giả nước ngoài đều khẳng định: Bảo đảm hậu cần là một mặt trận hết sức nóng bỏng và quyết liệt. Nó quyết liệt ở chỗ hai bên đều biết rõ điểm yếu của nhau là phải vận chuyển một khối lượng vật chất lớn đến một chiến trường xa hậu phương mà đường tiếp vận thì độc đạo. Phía Việt Nam chỉ có một trục đường bộ chủ yếu từ Sơn La vào Ðiện Biên, còn phía Pháp cũng chỉ có một phương thức tiếp tế duy nhất là đường không. Chính vì thế cả hai phía đều tập trung sức mạnh để khắc phục điểm yếu của mình, đánh vào điểm yếu của đối phương nhằm hạn chế, loại trừ khả năng tác chiến của đối phương. Theo Thủ tướng Pháp La-ni-en: "Ngay từ cuối tháng 12 năm 1953 trở đi, hằng ngày Bộ tham mưu Pháp ở Hà Nội và bản doanh của Tổng Tư lệnh Na-va ở Sài Gòn đều nhận được đều đặn các tin tức tình báo và các quan sát bằng máy bay về những hoạt động của Việt Minh chung quanh Ðiện Biên Phủ, nhất là các hoạt động vận chuyển của họ. Na-va dần dần nhận thấy những phương tiện của đối phương ngày càng được tăng cường cho mặt trận Tây Bắc, đặc biệt là những phương tiện vận tải... Các tin tức tình báo và quan sát bằng máy bay cho thấy có tới 75.000 "cu-li", làm công việc vận tải gạo và vũ khí... và hình như Việt Minh đã tổ chức được một đường giao thông từng chặng cho ô-tô qua lại..."(4).

"... Từ tháng 1-1954 trở đi, các cuộc oanh tạc các đường giao thông dẫn đến Ðiện Biên Phủ ngày càng ác liệt. Có trận dùng tới 39 máy bay B26, năm máy bay Pri Vát-tơ và 21 máy bay khu trục thuộc hải quân ném hàng trăm tấn bom... Lần đầu trong các trận oanh tạc, Mỹ cho Pháp sử dụng loại máy bay Pác-két (C119) 78 chỗ ngồi để thả bom na-pan. Mỗi chiếc mang được chín thùng, mỗi thùng chứa 90 bình na-pan. Tuy vậy tướng Na-va vẫn chưa yên tâm. Ðể làm chậm việc vận chuyển của đối phương, ông ta còn điều một sĩ quan chuyên môn từ Pa-ri sang nghiên cứu làm mưa nhân tạo bằng chất i-ốt bạc để chặn đường tiếp tế mọi mặt của đối phương"(5). Sau khi tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ bị tiến công (13-3-1954), theo yêu cầu của Pháp, "hằng ngày có tới gần 100 máy bay vận tải DC3 của Mỹ hạ cánh xuống các sân bay ở Việt Nam chuyển từ 200 đến 300 tấn hàng tiếp tế. Riêng ở Ðiện Biên Phủ hằng ngày có 30 máy bay vận tải hạng lớn C119 thả dù tiếp tế thêm 100 đến 150 tấn. Tất cả các máy bay của cầu hàng không đó đều là của Mỹ giúp. Tất cả các khẩu pháo 155 mm và 105 mm là của Mỹ và tất cả đạn dược dùng cho những khẩu pháo đó đều được đưa từ Mỹ tới... Ngày 22-3, Tổng thống Mỹ Ai-xen-hao chỉ thị cho Ðô đốc Rát-pho (Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân) phải giải quyết cấp tốc các yêu cầu của Na-va. Những ngày sau đó, một cầu hàng không đã được Mỹ thiết lập từ Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Ðài Loan, Phi-li-pin đến Bắc Bộ và từ các sân bay Cát Bi, Gia Lâm lên Ðiện Biên Phủ nhằm đáp ứng nhanh chóng những thứ quân Pháp cần, thậm chí cả những chiếc dù để thả hàng"(6). Theo Béc-na Phôn, việc tiếp tế bằng đường không của Mỹ cho Ðiện Biên Phủ "đã tiêu thụ tới 82.296 chiếc dù... bao phủ cả chiến trường như tuyết rơi hoặc như một tấm vải liệm"(7). Mỹ còn viện trợ cho Pháp loại bom mới Hen-li-phơ-lít trong chứa hàng nghìn lưỡi câu thật sắc nhằm sát thương đối phương"(8).

Bảo đảm hậu cần cho chiến dịch Ðiện Biên Phủ là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn nhưng cũng là một kỳ tích của dân tộc Việt Nam. Ðể giành toàn thắng cho chiến dịch, ta phải sử dụng một lực lượng đủ mạnh. Riêng ở tuyến chiến đấu lúc cao nhất có tới hơn 87 nghìn người, gồm 53.830 quân và 33.300 dân công(9). Lượng gạo cần cho chiến dịch là 16 nghìn tấn. Muốn có số lượng gạo đó phải huy động từ hậu phương lên tuyến chiến dịch 25 nghìn tấn. Theo tổng kết của Tổng cục cung cấp ngay sau chiến dịch Tây Bắc (1952), dùng dân công gánh bộ chuyển 5.000 tấn gạo từ Yên Bái lên Cò Nòi (cách Ðiện Biên Phủ 220 km) chỉ còn 400 tấn. Nếu đi tiếp 40 km nữa đến Sơn La thì lượng gạo chỉ còn 200 tấn. Nghĩa là để có một kg gạo đến đích phải có 24 kg tiêu thụ và tổn thất dọc đường. Vậy ở chiến dịch này nếu cũng vận chuyển hoàn toàn bằng dân công gánh bộ, muốn có số gạo trên, phải huy động từ hậu phương hơn 600 nghìn tấn gạo (khoảng một triệu tấn thóc). Giả sử có được số lương thực nói trên cũng không thể vận chuyển lên kịp vì đường quá xa, phải huy động một lực lượng dân công khổng lồ và nếu là thóc cũng không có cách nào xay giã kịp. Ðể giải bài toán hóc búa này, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị và Tổng Quân ủy đã đề ra những giải pháp hết sức khoa học, cách mạng và sáng tạo. Ðó là động viên nhân dân Tây Bắc dốc sức đóng góp tại chỗ. Mặt khác đẩy mạnh việc làm đường, sửa đường, sử dụng tối đa số ô-tô vận tải hiện có, huy động tối đa các phương tiện vận chuyển thô sơ của nhân dân như ngựa thồ, xe đạp thồ, thuyền mảng... phục vụ chiến dịch nhằm giảm đến mức tối đa lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ và tổn thất dọc đường do phải đưa từ xa tới.

Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Toàn dân, toàn Ðảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện chiến dịch Ðiện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành toàn thắng cho chiến dịch này"(10), nhân dân ta đã đóng góp 261.453 dân công với 18.301.570 ngày công, 25.056 tấn gạo, 1.824 tấn thịt và thực phẩm khô, hàng nghìn tấn rau, 20.911 xe đạp thồ, 11.800 bè mảng... Riêng nhân dân Tây Bắc đã đóng góp được 7.360 tấn gạo, chiếm gần 50% lượng gạo sử dụng tại tuyến chiến đấu và 27% lượng gạo phải chuẩn bị cho chiến dịch(11). Gạo viện trợ của Trung Quốc là 1.700 tấn (do các nữ dân công Phú Thọ chở bằng mảng từ biên giới Việt - Trung vượt 102 thác ghềnh hiểm trở theo dòng Nậm Na về Lai Châu) chiếm 6,8% tổng số gạo huy động. Quân dân Lào chi viện 310 tấn. Các tỉnh hậu phương (chủ yếu là Thanh Hóa) đóng góp 15.742 tấn, chiếm 63% số gạo được huy động. Ðánh giá kỳ tích trên, Nhà báo Pháp Giuyn Roa nhận xét: "Ông Giáp đã thắng trong cuộc chiến đấu hậu cần... Bất chấp hàng nghìn tấn bom rải xuống các trục lộ giao thông, con đường tiếp vận cho quân đội nhân dân không bao giờ bị cắt đứt"(12). Tướng Pháp Y.Gra khẳng định: "Cả dân tộc đã tìm ra giải pháp cho vấn đề hậu cần và giải pháp này đã làm thất bại mọi toan tính cũng như dự kiến của Bộ tham mưu Pháp(13). Còn chính tướng Na-va cũng phải thừa nhận: "Người ta chỉ còn biết thừa nhận nỗ lực phi thường đó và khâm phục trước hiệu quả mà Bộ Chỉ huy và Chính phủ (Việt Nam) đã biết cách tạo được"(14).

Cùng với gạo, việc bảo đảm đạn dược, nhất là đạn pháo lớn trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và cũng là một kỳ tích của hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam. Số đạn pháo 105 mm đã tiêu thụ trong chiến dịch lên tới hơn 20.000 viên, trong đó có 11.715 viên chiến lợi phẩm thu được trong Chiến dịch Biên giới, 400 viên thu được trong chiến dịch Trung Lào. Bộ đội đoạt dù tiếp tế của địch ngay tại mặt trận được 5.000 viên. Các bạn Trung Quốc chi viện cho chiến dịch 3.600 viên, đó là cơ số đạn đi cùng 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam từ cuối năm 1953. Ngoài số lượng đạn và pháo 105 mm nói trên, Trung Quốc còn giúp trang bị cho Việt Nam một tiểu đoàn DKZ 75 mm và một tiểu đoàn hỏa tiễn H6 (Cachiu sa). Hai đại đội thuộc hai tiểu đoàn trên đã kịp về nước tham gia đợt tổng công kích cuối cùng và đã sử dụng 1.136 viên đạn(15).

Khi hạ quyết tâm mở Chiến dịch Ðiện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xác định: Bảo đảm hậu cần là vấn đề khó khăn nhất. Na-va khi quyết định "chấp nhận giao chiến ở Ðiện Biên Phủ" cũng đánh giá sai lầm rằng, đối phương không thể giải quyết được các khó khăn về hậu cần. Diễn biến chiến dịch đã khẳng định bảo đảm hậu cần đúng là vấn đề khó khăn nhất. Các cuốn sách của người nước ngoài viết về Ðiện Biên Phủ cũng nhấn mạnh điều đó và cho rằng, bất ngờ lớn nhất đối với Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp chính là ở chỗ quân dân Việt Nam đã khắc phục được khó khăn, dốc toàn lực bảo đảm cho chiến dịch giành toàn thắng. Nhà báo Pháp Giuyn Roa, khẳng định: "Không phải viện trợ Trung Quốc đã đánh bại tướng Na-va mà chính là những chiếc xe đạp pơ-giô thồ 200, 300 kg hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm ni-lông. Cái đã đánh bại tướng Na-va không phải bởi các phương tiện mà là sự thông minh và ý chí của đối phương..."(16). Còn tướng Ê-ly, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp khi diễn ra trận Ðiện Biên Phủ thừa nhận: "... Một lần nữa, kỹ thuật lại bị thua bởi những con người có tâm hồn và một lòng tin"(17).

Ðại tá, TS VŨ TANG BỒNG

---------------

(1) Dẫn theo Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945-1975). Nxb QÐND, H, 1997, tr 264, tr 85.

(2) Harixơn. Cuộc chiến tranh triền miên (50 năm đấu tranh ở Việt Nam). Tài liệu dịch, Thư viện quân đội, tr 185.

(3) Mai cơn Măc Clia. Việt Nam cuộc chiến tranh mười nghìn ngày... Sđd, tr 67.

(4) La-ni-en. Thảm họa Ðông Dương từ Ðiện Biên Phủ đến cuộc đánh đố ở Giơ-ne-vơ. Tài liệu dịch, Bản đánh máy, Tư liệu Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, tr 126.

(5) Pôn Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc. Pari, 1964. Thư viện quân đội dịch tr.115-51.

(6) Pôn Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc. Pari, 1964. Thư viện quân đội dịch tr.115-51.

(7) Pôn Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc. Pari, 1964. Thư viện quân đội dịch tr.115-51.

(8) Bec-na Phôn. Cuộc bao vây Ðiện Biên Phủ. Tài liệu dịch. Thư viện Quân đội, tr.159, 196.

(9) Lịch sử hậu cần Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tập I (1944-1954) Nxb QÐND, H, 1995, tr 289.

(10) Văn kiện lịch sử Ðảng. Trường Nguyễn Ái Quốc xuất bản, 1964, tập VIII, tr 129.

(11) Công tác hậu cần chiến dịch Ðiện Biên Phủ... Sđd, tr 594.

(12) Giuyn Roa. Trận Ðiện Biên Phủ... Sđd, tr 608.

(13) Y-Gra Lịch sử cuộc chiến tranh Ðông Dương (1945-1954). Tài liệu dịch Thư viện quân đội.

(14) H.Na-va. Ðông Dương hấp hối... Sđd, tr 195.

(15) Sự thật về những lần xuất quân của Trung Quốc và quan hệ Việt-Trung. Nxb Ðà Nẵng, 1996, tr 39.

(16) Giuyn Roa. Trận Ðiện Biên Phủ... Sđd, tr 608.

(17) Ê-ly. Ðông Dương trong cơn lốc Sđd, tr 163.

Có thể bạn quan tâm